Tết xưa
Nói là xưa, nhưng mới cách đây ba bốn chục năm.
Sung sướng nhất là bước ra khỏi lớp sau buổi học cuối cùng. Cữ ấy, không ai bảo ai, tự nhiên lũ học trò toàn tính ngày âm lịch. Nghỉ tết thường một tuần. Mấy bác người nhớn ghé tai nhau thì thào: Năm nay cái thằng “Ngu Xuẩn Nhất Nhì” tuyên bố không uýnh nhau từ ngày này đến ngày này… Mấy bác nhớn hơn thì bẩu: Tin gì chúng nó, ta phải cảnh giác. Nó bị ta bắn sạch máy bay rồi, giả vờ nhân đạo đình chiến để vét kho đấy… Lũ trẻ không thèm quan tâm, cứ thấy trời đất tự nhiên lãng đãng sương, lòng xôn xao nghĩ đến áo quần mới, đi chợ tết…
Ảnh độc Mỹ nhân
Thơ tình đê…
Thấy nhà bác Lê Thiếu Nhơn quảng cáo thơ bên nhà bọ, coi bộ xôm trò quá, chạnh lòng nghĩ đến âm mưu của 2 chị em Mèo Bự – Hà Linh, đương chuẩn bị lên Tuyển mà bà con không ai thèm biết.
Than ôi ! Cái phận áo gấm đi đêm.
Nay ngày lành tháng tốt, nhân lễ Tạ ơn ở xứ nảo nào nao, chị em đằng hắng một tiếng, xin e lệ có đôi nhời, gọi là quảng cáo tiếp thị cho Tuyển tập “ Những bài thơ ỏn ẻn bên gối” sắp sửa ra lò.
Không đề
Hôm nay sang nhà bọ, đọc cái entry Bọ đoạ rồi. Buồn từ bấy đến giờ.
Chuyện thời cuộc thì mình cũng không ham lắm, chỉ sang rình bóc tem và đọc còm thiên hạ. Nhiều người luận thật hay, kiến thức uyên bác, chưa bao giờ mình nghĩ được như thế. Thấy tiêng tiếc 2 cái mục bị xoá, mình còm hiến kế cho bọ, được bác Trà hưởng ứng nên mừng mừng… Ai
Chiều khách 3 – tiếp theo và hết
Cửa buồng vừa đóng sập lại, Bự ra lệnh cho lão tự giác làm Adam ngay tắp lự…
Khi mảnh vải cuối cùng sắp sửa rời khỏi người, đột nhiên lão dừng lại…
- Không có chuyện cò cưa ! Ông có lột ra không thì bảo tôi…
Chiều khách 3 – tiếp theo và còn nữa
Một nhà dọn dẹp linh đình
Quét sân đặt trác rửa bình thắp nhang

Hôm ấy, đúng 10 giờ, nhà Bự sẽ đón hai khách sộp.
Một người lạ mà quen. Một người quen mà lạ.
Đặc Biệt !!!
Entry này được post vào lúc 0h00 phút ngày 20-11.
Chào Út Ổi. Chúc Út Ổi và bà con không bóc tem một ngày tốn kém !
HOA NÀO CHO GIÁO DỤC ? – Khảo cổ No6
Mới đó lại đến ngày 20 -11 !
Mới đó đã một năm. Cữ này năm ngoái, MB mở một topic mới bên diễn dàn giáo dục và post entry này lên. Quay đi quay lại, nó bị cẩu đầu trảm… Than ôi !!!
Chẳng có gì khắc dấu mạn thuyền cái ngày giỗ của giáo viên, MB xin chia sẻ lại với bà con. ( Bài có sửa lại đoi chút cho gọn)
… CHỈ CÓ Ở VIỆT NAM
Cuối tuần, mời bà con đến nhà Bự xả choét. Tuần này, MB chơi toàn hàng nội, ai mê hàng ngoại, kính mời mang chuột sang nhà Hà Linh và Út ổi
Đâù tiên ta xem lí do gì mà bác Trà (Hâm Lại) bỏ việc nhà nước
Chiều khách – version 3
Nóng lưỡi quá. Có chuyện mà không được kể, cái lưỡi cứ giãy đành đạch. Mà kể thì phải khai báo. Không khai báo thì chả ai hiểu chuyện mình kể sất.
Mà khai báo thì MB không muốn tý nào cả! Nhưng… không khai báo thì không kể được chuyện. Mà không được kể chuyện thì cái lưỡi cứ nóng bỏng bòng bong…
Sao khổ thế này !!!
Mag thôi, kể thì kể. Sợ gì !
Kính thưa những đồng chí chưa bị lộ…

Mèo đâu mà lắm thế
Dạo này Họ nhà Mèo nhân bản vô tội vạ, mỗi ngày lại xuất hiện một đàn Mèo không biết từ đâu tới.
Như hôm nay, mở mắt ra đã mọc thêm 2 mèo bên nhà bọ: Mèo Cụ và Hắc Miêu. Ui chời, Mèo sản xuất nhanh hơn cả virút. Còn nhớ, khởi thuỷ bên Quê Choa chỉ có lưa thưa mấy mèo. Đầu tiên là Mèo Bự và Mèo tam thể, sau Mèo tam thể đổi thành Mèo mặc váy hoa. Ít lâu sau xuất hiện thêm Mèo già, Mèo Nora. Chấm hết.
Bây giờ thì Mèo đông đến nổi không có một con chuột nào dám bén mảng đến chiếu rượu Quê Choa cả. Thống kê cho hết phải mất mấy ngày. Tỉ như : Mèo Mun, MeoMeoMũmMỉmMỹMiều@…, Meo mẻo mèo meo (lộ rồi), Mèo Mướp (có 2 Mèo Mướp), Mèo mini (Lòi đuôi rồi), Meo huyền, Mèo Quý tộc, Họnhàmeo…
Thực hư lẫn lộn, khién Họ nhà Mèo nóng mặt. Thế là Sê lốc Bự đành đi vòng một lượt quanh nhà bọ để dò la. Cứ căn cứ vào quần áo, phong cách gõ bài, cách dùng từ, bỏ dấu…, Sê lốc Bự lượm lặt được khá nhiều điều thú vị.
Còm măng Quechoa bi hài kí
Entry CCCP đương ăn khách, nhưng vì hết xôi rồi việc, gia chủ đành bấm bụng cho về hậu trường.
Trong lúc chưa nghĩ ra cái gì mới, mời bà con chiêm ngưỡng bộ sưu tập ảnh “Còm măng Quechoa bi hài kí” nhân dịp bọ Lập vừa được phong hàm Triệu phú.
Ôi ! CCCP…. Khảo cổ No5
Entry này gắn với một kỉ niệm buồn. Năm ngoái, MB gõ bài hăng lắm, một tuần vài bài là bình thường. Nhân kỉ niệm cách mạng Tháng Mười Nga, MB vác cái entry này đăng trên diễn đàn giáo dục. Post xong, thấy nó báo là chờ kiểm duyệt, nghĩ bụng chắc ít phút là họ tháo còng. Thế mà chờ đến qua cả lễ cũng chẳng thấy tăm hơi…
MB nổi khùng, soạn giọng bác Chí, văng mấy câu rồi “ người ra đi đầu không ngoảnh lại” cho đến giờ. Nay đọc lại vưỡn không biết nó phản động chỗ nào.
Ban đầu, MB đặt tile ” Một nén hương cho Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết“, nay sửa lại tí cho nó lành.
Huyền thoại nhạc pop Michael Jackson
Khó hình dung có một ca sĩ nào có thể khiến người hâm mộ yêu mến đến cuồng nhiệt và lâu dài như Michael Jackson – và cũng gây nhiều tranh cãi lớn.
Trên thế giới, Michael đã là siêu sao với các bản nhạc như Billie Jean, Beat It và Thriller. Nhưng với nhiều người khác, thành tựu âm nhạc của ông bị phủ mờ vì những tin tức đề cập sự kỳ dị, những lần thay đổi da thịt và đau đớn nhất là những cáo buộc lạm dụng trẻ em.
Heal the world
Bài hát mà Mèo Bự thích nhất của huyền thoại Michael Jackson.
Xin cảm ơn út Ổi đã dịch lời bài hát này.
Út Ổi đòi tôi phải bỏ lời phi lộ này, nhưng xét thấy rằng: Bản dịch có thể (và chắc chắn không thể nào) chuyển tải được hết cái hàm ý sâu xa của ngôn ngữ, nên tôi đành phụ lòng Út Ổi mà post lên đây bản dịch lại của em và vẫn giữ lại lời phi lộ đã gửi cho tôi, như một minh chứng của một tấm lòng, một thái độ làm việc cẩn trọng và nghiêm túc
Ý nghĩa của bài hát có thể tóm tắt lại là :Trong trái tim của mỗi người chúng ta đều có một nơi chứa đựng tình yêu thương (mà ta không biết đó thôi), vì thế chúng ta hãy mở lòng, ráng tạo ra trong con tim một khoảng trống nào đó để chứa đựng tình yêu thương ấy, bạn bè anh em các nước hãy coi nhau như là anh em một nhà, đừng thù hận, đừng chiến tranh, vì có quá nhiều người đang phải chết vì chúng.
——————-
đám tang ĐD Huỳnh Phúc Điền
21h ngày 29/6, Huỳnh Phúc Điền bắt đầu không thở được, và không nói được. Bác sĩ phải đặt ống thở phụ cho anh và đưa anh xuống phòng hồi sức cấp cứu. 2h sáng 30/6, mọi nỗ lực đều không thay đổi được sự mất mát lớn, khi bác sĩ hỏi: gia đình muốn đưa về hay để lại bệnh viện? Muốn anh được yên nghỉ ở nhà nên gia đình quyết định đưa Phúc Điền về, và đúng 3h, anh ra đi. Không đau đớn, không vật vã.
Huỳnh Phúc Điền và vòng tay bè bạn

Hải Anh, vợ anh là một người phụ nữ bản lĩnh và vững vàng trong đau thương.
Mr Đàm: “Tôi căm ghét sự sắp đặt này và luôn lớn giọng hỏi ông trời, ngoài kia có bao nhiêu kẻ đáng chết, tại sao ông không đi gặp họ mà lại đi lấy anh Điền của chúng tôi?” ( Câu này thật chí lí) Read more…
Tang lễ lịch sử cho Michael Jackson

Michael Jackson (1958-2009)
Mèo bự tổnghợp - Di nguyện yên nghỉ tại trang trại Neverland của Michael Jackson không thành, do vấp phải một số cản trở về quy định. Lễ an táng “Vua nhạc pop” sẽ diễn ra vào hôm nay tại nghĩa trang Forest Lawn vào hồi 19h (giờ Việt Nam). 21h sẽ bắt đầu lễ tưởng niệm tại sân vận động Staples Centre. Các màn hình lớn cũng được sẽ được bố trí bên ngoài sân vận động Staples Centre và dự kiến khoảng 1 triệu người sẽ có mặt để bày tỏ niềm tiếc thương và sự kính trọng đối với siêu sao ca nhạc. Buổi lễ cũng được phát sóng trực tiếp qua mạng và một số kênh giải trí trên toàn cầu.
Nhạc và hoa trong tang lễ Michael Jackson
Mèo Bự tổnghợp:

Michael Jackson (1958-2009)
Lễ tưởng niệm huyền thoại âm nhạc thế giới diễn ra tại sân vận động Staples Center (Los Angeles, Mỹ) lúc 10h35 phút ngày 7/7 (0h35 phút ngày 8/7 giờ HN).Khán giả vỗ tay, reo hò và huýt sáo, khi quan tài mạ vàng phủ hoa của huyền thoại âm nhạc được các anh trai của anh đẩy ra sân khấu Trong khi quan tài Michael Jackson được đưa ra khán phòng, dàn đồng ca đã hát bài We Are Going To See The King. Ca sĩ nhạc soul Smokey Robinson đọc thư chia buồn với gia đình “Vua nhạc pop” của Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela và ca sĩ Diana Ross, mở đầu buổi lễ.
Chụp trộm WC nữ đê…
Chúc mừng blog Quê Choa, chú mừng ngày Tân gia của bọ Lập

2009-07-15 20:46:08, bọ Lập hôm nay re còm mỏi cả chân, he he...
Chiều khách – version 2

Tưởng bở
Version 1 là tình huống chỉ có một người ở nhà. Version 2 thì có cả 2 người. Vậy họ sẽ phải làm gì để chiều khách?
Bà con đã đọc version 1 thì nên bỏ qua đoạn chữ xanh cho khỏi mất thời gian.
(Nhời ngỏ: Trong entry có một số hội thoại hình như bằng tiếng Ăng lê, vì gia chủ cực dốt món này nên không biết họ nói cái giề, khi biên lại, đành đồ theo lối ghi âm)
Tự sướng (+30) new…new…new…
Vi vu cả ngày, về nhà chợt gặp được một number string hơi bị đẹp, vội vàng refresh để được một chuỗi xịn hơn, ai dè lúc đó khách online hơi bị nhiều, thành ra nó vọt lên ngoài dự kiến…
He he, nhưng nỏ làm sao hết, vì càng đông khách thì càng happy. Đương ế ẩm mà gặp của special thế này coi như là trúng số. Vậy post lên đây để bà con xxx hộ.
Chú ý quan trọng: Những ai thuộc diện U 30 hãy variable ngay lập tức. Nhà ga chúng tôi không chịu trách nhiệm nếu quý khách ngoan cố không nghe nhời cảnh báo này.
An Nam liệt…mạng
Có quan bác, một hôm trà chưa dư, tửu chưa hậu bỗng nổi hứng lập luận:
- Sao lại sinh ra cái in tơ nét làm gì nhỉ? Cần quái gì tơ nét tơ niếc. Đất nước thì nghèo mà ta lãng phí thời gian cho thằng này nhiều quá, đã thế địch lại lợi dụng. Ngày xưa đánh Mỹ có nét niếc đâu mà nó cũng phải cắp nón về nước. Bây giờ Cu ba, Triều Tiên mạng miếc cái gì mà dân ai chết đâu! Mạng có ra cơm không? Đổ bao nhiêu tiền của dân vào đây mà không xót ruột! Thôi thôi, dẹp…, cắt ngay, cắt khẩn trương.
Đệ tử vỗ tay bộp bộp, ngoác miệng hô cao kiến cao kiến, thượng sách thượng sách…
Ngay tắp lự, nửa đêm truyền hịch, sáng ngày xuất binh.
*
Chú Quảng trọc vươn vai quai miệng ngáp, đánh đu cả người lên cái Đại tổng cầu dao, làu bàu:
- Bố mày kéo cái cần này xuống, nó bật cái cần dân số lên cho chúng mày xem.
*
Tút còm.
Ngậm ngùi tháng Chín ngày Năm… (1)
(Hồi ức của một blogger)
Vào lại nhà cũ bên Plus, đọc cái còm của LMTS “Nhanh nhẩy, 2 tháng rồi đấy bác ạ”. Ừ nhỉ!… Đã hai tháng rồi à? Mới 2 tháng thôi à?...
Lan man, nhớ về một thời chưa xa.
Ngày ấy năm ngoái, tôi ra công khai, đóng tại Plus.
Ban đầu, nhà tôi chỉ là nơi trao đổi nghề nghiệp với đám chúng bạn chuyên há miệng chờ sung, mù tin học đến độ không hề biết đến nén và giải nén là gì…
Tôi post đủ thứ hầm bà lằng lên đó, chúng bạn chỉ việc cóp phết cóp phết. Khoẻ re! Alô nổ liên tục, đơn đặt hàng bay về dào dạt… Tôi thấy mình bỗng trở nên quan trọng, một cứu tinh có thương hiệu cho đám giáo lười.
Tiếng lành lại đồn xa. Người đến như trảy hội. Mới đầu, thấy bà con vào đông, khoái lắm. Lâu lâu, lại lách cách vào nhà, say sưa ngắm những con số đang nhích lên…
Xây nhà wordpress theo ý muốn
Ngày mới sang đây, MB hoa mắt vì 75 cái theme của wordpress. Quá đã!
Nhưng sinh sống một thời gian, lại thấy thật buồn với cách phong cách cứng nhắc của nó, loay hoay đổi hết theme này sang theme khác mà đi đâu cũng bị đụng hàng. Muốn chơi độc một xíu nhưng đành bó tay, lí do đơn giản là can tội thích xài đồ free.
May thay, gặp bác viettien, không biết bác ấy làm nghề gì mà cấy giề cũng tinh thông. Muốn comment cho đẳng cấp một chút, mời bà con tham khảo bài này của bác viettien. Còn muốn tạo theme hàng hiệu cho nhà cửa có vẻ pro, xin mời bà con ngâm cứu và thực hành theo hướng dẫn sau.
Lưu ý: Mọi thắc mắc, xin bà con theo đường link dẫn ở cuối bài, đến thẳng nhà bác Việt Tiến sẽ có lời giải đáp
Cài đặt WordPress trên 000Webhost
(Tặng bác Mèo Bự)
I. ĐÔI ĐIỀU VỀ WORDPRESS VÀ CÁC HOST MIỄN PHÍ
WordPress (WP) là một trong những nền tảng tốt nhất cho những người viết nhật kí mạng (blogger) hiện nay. Nhiều người dùng WP vì nó có thiết kế trang nhã, thân thiện, dễ dùng, nhiều theme và nhiều plugin bổ sung, hỗ trợ tiếng Việt, và nhất là khả năng tùy biến rất cao.
Blog giống như một góc nhà trong phòng khách của chúng ta, và cũng là một lẽ thường tình, ai cũng muốn tạo một sắc thái riêng cho góc nhà đó. Hầu hết bà con hiện đang dùng WP do chính hãng WP cung cấp trên chính host của hãng này (wordpress.com). Ưu điểm của điều này là tính ổn định nhưng nhược điểm cố hữu lại là khả năng tùy biến blog hạn chế. WP.com cực kì bủn xỉn
trong việc cho phép người dùng tùy biến giao diện cũng như thêm plugin vào blog. Hậu quả là nhà ai trông cũng na ná như nhau. Đơn điệu!
Ngậm ngùi tháng Chín ngày Năm – 2
Xin hát về bạn bè tôi…
Lại nói, Bự được chễm chệ ngồi trên chiếu Hội Nhà văn Việt Nam thì bỗng dưng thấy mình vĩ đại, bèn về nhà gióng trống khua chiêng, nhạc nhẽo om xòm, loa kèn hết cỡ…
Tự sướng suốt 3 ngày 3 đêm, Bự mới loẹt quẹt lê guốc, ra chiều uể oải, cắp sổ ra ngõ biên nhận phong bì.
Đeo hết kính cận đến kính viễn, hết kính mù màu đến kính quáng gà…, trước sau chỉ thấy nhõn một phong bì.
Chắc có lão nào điếc tai quá, sang thí một nhát về ngủ cho yên thân !
Tụt hứng, Bự lại thất thểu tìm sông Mịch La.
Chuyện vợ chồng đêm thứ Bảy…
CẤM TRẺ EM CHƯA BIẾT CHỮ….
Đánh máy chữ
Hai vợ chồng nhà nọ quyết định sẽ dùng mật mã để ám chỉ “chuyện ấy”, nhằm tránh cho các con biết. Họ quyết định dùng từ “máy đánh chữ”.
Một hôm, ông chồng nói với cô con gái 5 tuổi của mình: “Hãy đi nói với mẹ là bố cần đánh một lá thư”. Cô con gái chạy đi kể với mẹ, bà mẹ liền nói: “Bảo với bố là không thể đánh máy bây giờ vì máy đang bận”. Cô bé lại chạy đi báo với cha.
Read more…
Ngậm ngùi tháng Chín ngày Năm… (3)
… Một ngày kia, Bự suýt ngất khi bất ngờ tận mắt nhận được một phong bì của bọ Lập… Khi mắt hết hoa, tai hết ù, cũng là lúc Bự gần như quên tiệt năm chục cái phong bì mà Bự dày công tích cóp. Trong mắt Bự, chỉ còn có một chiếc phong bì tổ bố, nó bằng kim cương, không nó là cụ của kim cương. Nó chỉ biên có vài dòng, thảo nào người ta gọi là còm.
Bự thấy mình trở nên quan trọng, lên giá. Từ đó, Bự hầu như ngày nào cũng ở lì nhà bọ. Bám riết theo những cây cao bóng cả, Bự lăng xăng diễn màn bơm vá đánh thổi. Kết quả của những ngày tháng đi theo nói leo ăn bám, Bự được nhiều người nhẵn mặt.
Bự lại kết bè đảng với Bảo Ngọc, một ma nữ ở xứ Cẳng Gà Rù. Chúng chôm ảnh của các mỹ nữ, ỡm ờ khoe đó là chân dung của mình.
Ngậm ngùi tháng Chín ngày Năm… (tiếp theo và hết).
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy…
Hot… Hot… new… new… : Sau một thời gian nằm vùng, Mèo Bự và Út Ổi đã bị lộ hàng.
♣ Click here ♣
Một ngày không đẹp trời, chúng tôi bỏ Plus, kéo nhau sang đây.
Chẳng ai muốn chuyển nhà cả, nhất là nơi đó có biết bao nhiêu bà con bè bạn. Nơi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất đã hoá tâm hồn...
Khoảng tháng 5, thằng Plus bắt đầu động kinh, đợt 1 kéo dài 3 ngày, còm không được, lên entry không đươc. Lúc thì mất theme, khi thì bay ảnh… Rồi một ngày kia, cả đống còm từ trên giòi rơi xuống, hoá ra tuyền còm cũ mà bấy lâu bà con ra sức bóp cò. Đau nhất là đống phong bì nhà mình dày công tích cóp tự nhiên bay hơi.
Chuyển nhà! đó là ý nghĩ đầu tiên cho tất cả cư dân sinh sống ở Plus.
Truyện không muốn viết…
New: Chuỵện nhà út Ổi…click here
♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥
Rõ khổ, mai khai giảng rồi. Ngồi nặn cả buổi không thể ra một entry nào để khắc dấu mạn thuyền cả. Đầu empty như cái thùng thiếc. Muốn gõ cái gì thật nghiêm văn chỉnh mà cứ tắc tị…
Thế là âm mưu làm thơ…
Thời cửa đóng then cài, lim dim cầu giời khấn phật cho con cảm hứng…
Đúng là có thờ có thiêng, khoảng nửa tiếng thì thấy tai ù ù, đầu ong ong, mắt lờ đờ. Như thấy hoa cười bướm liệng, bèn nhón tay lấy bút hoạ vần…
Bút thời chưa chạm giấy, thì…, re…e…e…e..eeng…
Giật mình, tháo mồ hôi hột, hoa bướm bay tiệt. Tức mình, bịch bịch chạy xuống xem đứa nào to gan, dám đến phá cảm hứng của bà bà
Đau đầu cả tuần
Hôm trước, bác LMTS hỏi: Thế mật khẩu cái Không thể và có thể là gì?
Thật là khó nói. Vì entry này là một mẩu kí ức. Gõ xong thì chợt thấy mình “lộ” nhiều quá, không đưa ra khoe thì thật phí, mà đưa ra thì chả khác “Lạy ông (bà) tôi ở bụi này”… Phân vân mãi rồi cũng đưa lên, nhưng phải móc vào đó cái còng.
Hình như cũng có vài người trổ tài, nhưng xem bộ tay nghề còn thua xa mấy bác an ninh mạng.
Nay post thêm một mẩu chuyện vụn lên đây, đầu tiên là để bà con đọc và cộng khổ với MB, sau đó là một gợi ý để bẻ khoá, thử tài các cao thủ.
Lại chụp trộm – tự sướng.
Làm paparazzi cũng nhiều cái hay. Chụp mà người không biết. Lúc tung lên mạng mới ngã ngửa.
Nghề này, chủ yếu đòi hỏi kiên nhẫn, sau đó là chuyện giời cho. MB thì không có khái niệm kiên nhẫn, nhưng được cái giời cũng gần thương, nên chụp sém mấy nhát, suýt được vào Guiness.
Cuối tuần, post mấy cái ảnh độc cho bà con thư giãn.
Chú ý quan trọng: Những tấm ảnh bên trong không thích hợp với người mù màu. khiếm thị, loạn thị, quáng gà…, các bác đừng bấm vào nút Đọc tiếp….
Hoang mang quá… help me !!!
Vừa sang nhà bọ, đang gõ cái còm cho entry CẨU THẢ HAY CỐ TÌNH, chợt thấy ngứa ngứa con mắt…
Liếc sang trái, hoá ra cái cột lý lịch của MB là thế này:
Như giọt đàn câm lặng vỡ oà.

Noracat
Hồi ấy em mới sang Hung và đang học Nhac Viện . Em đi biểu diễn và quen anh ấy trong một ngôi nhà Thờ nhỏ, đẹp như tranh ở vùng biên giới Áo Hung, anh 21 tuổi và em 16…suốt mấy năm trời cứ thương nhớ và ngưỡng mộ nhau dưới sự cấm cản của nhà Thờ, chỉ có viết thư và điện thoại…khi trao được cho nhau nụ hôn đầu thì cũng là lúc anh bị gọi về Vatican… bặt tin…và 6 tháng sau anh tự vẫn bởi những bức bối trong lòng mà ko thoát ra được…!
Và cũng phải 10 năm sau , lần đầu tiên em mới được đến Vatican, mới được đứng trước tấm Bia mộ của anh ấy ….Em đã lặng đi và nuốt nước mắt vào lòng , em đau đớn vô cùng nhưng vẫn tỏ ra bình thản như hàng ngàn , hàng triệu du khách….!
Sắp tới em sẽ được qua Vatican thăm mộ anh ấy lần nữa, đốt cho anh ấy bài thơ này…
Lại tự sướng! Ảnh nóng… nóng…nóng…!!!

paparazzi photos
Cái số thì chả ra gì, nhưng MB lại thích chơi số. Thậm chí ngày nào cũng ước mình trúng độc đắc, mặc dù mấy chú vé số chưa bao giờ cậy được MB một keng. He he…
Đến bất kỳ nhà ai, việc đầu tiên MB cũng dòm vào cái thống kê của họ, hi vọng chụp được một số đẹp. Thường nhà lạ thì gặp số đẹp, nhà quen thì tuyền đồ giời ơi. Thế mới điêu!
Cũng lạ, nhà mình thì hầu như MB ngày nào cũng vào, nhưng chửa bao giờ gặp con nào ưng ý cả. Những khi nó chuẩn bị vào tròng thì tuyền lúc MB bận việc nhớn. Thế mới điếu!
Vào lúc khoảng 2 giờ mười mấy chiều hôm nay, có một giây nào đó, guồng quay của thần may mắn đã chạm vào bàn chân ai đó khi đến chơi nhà MB, và khoảnh khắc này đã bị paparazzi LMTS chộp được. Thế mới điệu!
Comment, và hơn thế nữa…

còm không thì bẩu.
Còm
Khởi thuỷ, 360 chỉ có dòng chữ sau: Compose a comment for this post, chẳng cần biết tiếng Ăng lê, ai cũng hiểu nó là gì, và có muốn buôn dưa lê cũng chỉ được 4000 characters left, và no HTML, please.
Nhưng dân An Nam thì sáng tạo đến vô cùng.
Khảo cổ – No1
Đọc mấy cái còm ngờ nghệch của UO, tự nhiên nhớ đến cái entry “Cảm phiền Bảo Ngọc” hồi MB còn đóng đô ỏ Plus. Lúc ấy, BN đương còn nai lắm, entry của nường ngây ngây thơ thơ cứ như gái nhà lành bị cấm cung…
Nhân lúc đương tháp tùng các bác nhớn đi chống bão số 9, chả viết lách được gì cả nên post lại entry xưa thật là xưa này để bòn thêm tí phong bì. Thời buổi đói kém mờ 
![]()
![]()
Khảo cổ – No2
Dạo này MB lại giở quẻ, thích lê la hóng hớt chuyện thế sự. Nghe mãi phát chán, vưỡn tuyền những vụ như hồi nảo hồi nào. Công riêng tội chung.
Lại nhớ mình đã có lần dũng cảm đứng đơn xin từ chức… Xin post lại chuyện này để hầu bà con cuối tuần, mấy cả vui rằm trung thu luôn thể.
Tôi xin từ chức.
Cứ mỗi lần nghe công luận ồn ào về “văn hoá từ chức”, ruột gan tôi lại sôi lên ùng ục.
Xin tự giới thiệu mà không sợ bị phiền phức: Tôi là người yêu nước!
Đã yêu nước thì cái sự Quốc thể phải được đặt lên đầu của mọi hàng đầu. Ai mà chịu đựng nổi khi đi đâu, ở đâu lỗ tai cũng bị hứng đủ mọi thứ âm thanh, ngôn từ xa xả tống vào vì cái chuyện “văn hoá từ chức”. Mà ai là ồn ào nhất? Toàn là phe ta! Họ xỉa xói, cạnh khóe ông A bà B mặt dày. Họ ca ngợi một ông sắp bị cách chức đã dũng cảm từ chức. Họ còn tâng bốc một ông khác dám nhận cái lỗi mà đáng ra ông phải từ chức từ lâu lắm… Những người này chẳng hề có một dây tơ quan hệ với tôi, nhưng nghe cứ thấy đau hộ. Thằng Tây nó biết thì còn gì là Quốc thể.
Bởi vậy, tôi quyết định xin từ chức.
Khảo cổ – No3

Tình hình là dạo này vừa lười viết, vừa tụt hứng. Nguyên nhân có nhiều, nhưng có lẽ chủ yếu nhất là bà con hà tiện phong bì quá.
Cách đây 5 tháng, chỉ với entry nhạt như nước ốc này, MB cũng bỏ túi 87 cái phong bì ngon ơ
Ác mộng
Tự sướng cuối tuần.

paparazzi
Tuần này, xin chính thức điểm mặt 3 gương mặt paparazzi siêu hạng của xóm WP.
Xin bà con một chàng pháo tay lấy hên.
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
Bỗng dưng muốn xỉu
- Chị đến gấp!
Âm thanh cuối cùng chưa kịp chui vào màng nhỉ đã nghe cạch một nhát. Ấy là phong cách gọi điện của Út Xoài.
Nó từng khoe: Bọn Việt theo đừng hòng moi em được một xu. Thường thì tôi kệ xác nó, vì nếu có alô lại, nó cũng chẳng thèm nghe. Tính nó thế. Nếu không đến cũng chẳng sao cả. Nhưng mấy hôm nay, con chị song sinh của nó nhìn tôi như nhìn liệt sĩ. Toe toét chào hỏi nó cũng điếc, chẳng hiểu nó đương khoác cho tôi cái tội gì?
Bởi vậy, lần này Út Xoài gọi, tôi không dám xem thường, vội vàng dắt con ngựa sắt, phi ngay giữa trưa. Mà làng tôi cách làng nó những 3 cây lô mếch chứ có ít đâu. Không đến, nhỡ nó xem nốt mình là tử sĩ thì chỉ có mà lo tìm đường cứu nước…
Tự sướng – Khảo cổ No4

Nguyễn Lâm Cúc
Xin phép bà con cho MB mang cục gạch đi cất. Rốt cuộc, nó chẳng bị xây cho cái gì .
Tháng này, phe ta có ngày Nhiệt liệt chào mừng. Chửa biết mần gì, đành phải giở chiêu Đập cổ kính ra tìm lấy bóng… mà tự sướng vậy.
Xin trân trọng giới thiệu bài thơ THÁNG BA của chị Lâm Cúc cùng nhời bình loạn của Tú Trinh.
2 bản dịch đầy đủ – Bài nói chuyện của TT Obamma nhân ngày khai trường.

- Barack Obama
Nhân ngày đại lễ, Mèo Bự đã mở đại tiệc chiêu đãi khách 4 phương. Theo biên chép ban đầu, đã có tổng cộng hàng chục triệu lượt người đến dự, làm ùn tắc giao thông suốt mấy tuần qua tại bản doanh Họ Nhà Mèo.
Tuy nhiên, khách thì nhiều, khứa (được) quá ít, gia chủ không thể tiếp tục duy trì đội ngũ tiếp viên trẻ đẹp, tận tuỵ, hùng hậu…, vậy gia chủ tạm cất họ vào kho đông lạnh để giảm thiểu chi phí. Quý vị vẫn có thể vào lại bảo tàng với mã khoá là tiếng đầu không dấu của nhan đề entry cũ.
Nay gia chủ xin trình làng bản dịch đầy đủ bức thư của TT Obamma gửi học sinh nhân ngày khai trường (Arlington, Virginia – September 8, 2009), bức thư theo nhiều người thìnó là tiếng nói của một cậu học sinh, một người anh, người cha…, sau hết, nó là tiếng nói của một người có trách nhiệm cao nhất với đất nước – tiếng nói của TT Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Hà Linh, người đã giúp gia chủ và rất nhiều người mù ngoại ngữ có được tư liệu quý này.
Cáo lỗi
Do khâu in ấn bản dịch thuật bức thư của TT Mỹ Obama gửi các cháu học sinh nhân ngày khai trường (8-9-2009) gặp một số trục trặc, gia chủ tạm đóng entry này để hiệu đính, mong bà con lượng thứ và trở lại sau ít phút………..
Mời bà con cùng sống với Mèo Bự trong thời gian chờ đợi.
Hơi bị lâu, mời bà con nghe thêm bài Hà Nội nữa. Điều kì lạ là, bài này ca sĩ Hà Nội hát ko hay bằng ca sĩ Sài gòn. Ấy là MB cảm nhận như vậy.
Mùa hạ rớt
Giật cái title cho lãng mạn để câu khách thế thôi, chứ thực ra entry này được gõ bằng phong cách Hiện Thực Phơi Phới. Nó có ý nghĩa hay bài học dút da dút vào đều tuỳ thuộc vào người đọc. Đơn giản vì hôm nay được nghỉ mà ngồi gõ, mà muốn đi làm cũng không thể được vì không thể đi nổi. Túm lại, chuyện là thế này.
Sáng, định ngủ nướng, nhưng lão mặt trời cứ nhè mặt mà rọi. Thế là đành bò dậy.
Chế Lan Viên – Vương Trí Nhàn
Chế Lan Viên
Bao nhiêu cuộc thi của các triều đình phong kiến, để lại bao nhiêu trạng nguyên, nhưng những ông trạng ấy, mấy ai được nhắc tới bây giờ. Trong khi đó, nghĩ đến trạng, là người ta liên tưởng ngay đến Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, những trí thức dân gian mà đến nay, người ta còn kể lại cho nhau nghe, hết sức thú vị và chắc chắn, nếu được phân tích kỹ, có thể cho thấy quan niệm của người Việt Nam về khuôn mặt giới trí thức có thể có.
Nhiều người sống qua những năm Cách mạng, đặc biệt những năm chống Mỹ, thường nhớ tới Chế Lan Viên như một người nói giỏi, thuyết khách giỏi, chứng minh giỏi. Không đỗ đạt cao nhưng biết sử dụng kiến thức của mình. Ranh mãnh mà lại hồn nhiên, hình như thích nói, chỉ lấy nói làm sướng, nói hay hơn mọi người làm chuyện tự hào. Trong một ý nghĩ nào đó, có thể gọi đấy là một thứ trạng của thời đại này. Dù công việc không rộng ra các vấn đề chung của quốc gia, mà chỉ thu hẹp trong giới văn nghệ, nhưng vì ở Việt Nam, trong những năm sau cách mạng, không có sự bận tâm nào của giới văn nghệ sâu sắc hơn sự bận tâm tới các vấn đề quốc gia – cho nên, Chế Lan Viên cũng được rất nhiều người biết tới.
Chế Lan Viên, quê ở Nghệ An, nhưng lại lớn lên ở Bình Định. Vùng đất này của miền Trung là quê hương của nhiều nhà thơ “tiền chiến” nổi tiếng: Bích Khê, Hàn Mặc Tử… Trong sự phát triển muộn mằn của mình, nền thơ Việt Nam hiện đại, sớm trải qua tất cả các giai đoạn phát triển tiêu biểu: từ tiếng thơ nồng nhiệt yêu đời của Xuân Diệu sang thơ điên, thơ loạn của Bích Khê, Hàn Mặc Tử, chỉ có một quãng thời gian ngắn ngủi. Chế Lan Viên không những gần gũi với mấy nhà thơ trên ở tình đồng hương, mà còn ở xu thế tìm tòi của mình. Cái tên Chế Lan Viên, gợi nhớ đến Chế Bồng Nga, vị vua Chiêm thuở nào. Nói về Chiêm Thành để nói lên cảm giác về một cái gì lớn lao giờ bị mất mát. Nhiều khi trong thơ gợi lên hình ảnh ma quái, cho nên gây ấn tượng kinh dị.
Suốt một thời gian dài, thơ Hàn Mặc Tử, thơ Bích Khê bị giới nghiên cứu văn học Hà Nội đẩy vào bóng tối. Nền văn học thuộc về quần chúng trong cái trong sáng, cái dễ hiểu, không thể chấp nhận được những tìm tòi siêu hình kiểu đó. Bản thân Chế Lan Viên hình như cũng muốn quên đi thơ của mình, không coi đó là niềm tự hào như Xuân Diệu. Điều này diễn ra suốt mấy chục năm trời, cho đến 1985-1986: Khi làm tuyển của mình (xêri in ở nhà xuất bản Văn Học), trong khi Xuân Diệu lấy lại gần hết Thơ thơ, Gửi hương cho gió, thì Chế Lan Viên chỉ lấy lưa thưa dăm ba bài, không đáng kể . Phải tới 1987, 1986, quan niệm này của Chế Lan Viên mới lung lay một chút. Khi làm tuyển thơ Hàn Mặc Tử, thơ Bích Khê, ( việc do nhà xuất bản Nghĩa Bình nhờ), Chế Lan Viên xuất hiện với những bài giới thiệu hết sức ca ngợi trường thơ gọi là điên loạn kia, và miêu tả các nhà thơ đó, như những người gần gũi với cách mạng, chỉ một chút xíu nữa trở thành cốt cán của cách mạng như chính mình.
Thoạt nhìn, thì đây là một ví dụ về tính đỏng đảnh của Chế Lan Viên một người lúc nói thì thế này, lúc nói thế khác, và lúc nào nói cũng đầy tâm huyết, cũng hết sức thuyết phục cả.
Ở một phương diện khác, lại có thể thấy cách giải thích sau này của Chế Lan Viên cũng cực kỳ sâu sắc. Cái kỳ lạ của cuộc cách mạng Việt Nam là nó mang vào mình đủ mọi tầng lớp khác nhau. Trong đó, có những người hình như chả dây dưa gì với Cách mạng cả. Mới đây thôi (1988) ở Hà Nội có cuộc thảo luận về chức năng của văn học. Nhiều người bắt đầu nói tới tính dự báo: văn học giống như một thứ tiên tri, báo truớc những điều xảy ra. Giá kể trong một trường hợp khác, cần ủng hộ ý kiến ấy, thì Chế cũng tìm ngay được dẫn chứng trong văn học Đông Tây kim cổ để chứng minh cho tính đúng đắn của nó. Nhưng lần này, tình thế buộc Chế phải đứng ở phía đối lập, và ông tìm ngay ra một dẫn chứng hết sức thuyết phục. Cứ xem văn học Việt Nam thì biết. Đọc văn học Việt Nam trước 1945 ai ngờ là sẽ có cách mạng xảy ra (Đây là một câu chuyện hết sức thú vị, chúng tôi mong có dịp trở lại khi bàn về mối quan hệ giữa văn học và cách mạng). Trong một dịp khác Chế Lan Viên kể vắn tắt và cụ thể hơn: Lúc cách mạng xảy ra, ông ở bờ biển Nha Trang. Đang tắm thì thấy người ta biểu tình đi qua. Thế là nhà thơ chạy theo. Có lẽ bấy giờ chính ông cũng không ngờ là có lúc, ông trở thành một nhà thơ phát ngôn của cách mạng, ở một thời điểm quan trọng những năm chống Mỹ
Vai trò mờ nhạt trong kháng chiến và đầu hoà bình.
Trung tâm của văn học kháng chiến là ở Việt Bắc, mà những năm này, Chế Lan Viên lại ở chiến trường Trị Thiên. Những sáng tác của ông bấy giờ còn rất thưa thớt, sau này tập hợp lại, trong tập Gửi các anh. Ở tập thơ có khoảng vài chục trang này người ta bắt gặp một Chế Lan Viên rất hỗn tạp, có những bài cao giọng nhưng lại có những bài tập theo lối dân gian (Bữa cơm thường trong bản nhỏ sau này thường được chọn như là một đỉnh cao trong thơ Chế Lan Viên hồi kháng chiến). Nhưng ngay lúc ấy, Chế Lan Viên đã có một cuốn tiểu luận mỏng, mang tên
Sau này, trong một cuộc tranh luận, Lại Nguyên Ân mỉa mai: thế là một bậc thày của văn học cũ, lại sớm trở thành người rao giảng lý luận của nền văn học mới.
Nhìn chung lại, cho đến trước 1958, vai trò của Chế Lan Viên chưa có gì đáng kể. Thời gian 1945-1946 – thời gian Xuân Diệu ở trong ban biên tập tạp chí Tiên Phong , trở thành đại biểu Quốc hội, đi Pháp, viết tráng ca Ngọn quốc kỳ, thì Chế Lan Viên hoàn toàn không thấy xuất đầu lộ diện. Thời gian sau, người ta cũng không thể mang một ít thành tựu chịu đựng gian khổ của Chế ra so với những hoạt động rộng rãi của Xuân Diệu, như đi bình thơ, như giữ mục Tiếng thơ trên Đài tiếng nói Việt Nam và cùng Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng làm tạp chí Văn Nghệ.
Đến đầu hoà bình, Chế Lan Viên lại bị một bệnh hiểm nghèo so với tình hình lúc ấy – bệnh lao, và phải đi Trung quốc điều trị. Sự vắng mặt ở Hà Nội khiến cho Chế Lan Viên không có vai trò gì nổi bật, trong vụ Nhân văn-Giai phẩm – không dao động chút ít, đủ để phải kiểm điểm, như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, cũng không làm việc “truy kích” những tàn dư của cánh Nhân văn, như Xuân Diệu gọi công việc của mình, những năm 1958. Chuyến đi Trung quốc chỉ tạo cho Chế Lan Viên một dịp suy nghĩ nghiền ngẫm về nghề nghiệp, và những quan hệ tốt với Trung quốc mà ông sẽ gìn giữ cho đến trước cuộc xung đột Trung-Việt (1978)
T sự sống lại trong thơ đến những bước bột phát trên đường hoạn lộ
Tập thơ hay nhất của đời thơ Chế Lan Viên, Ánh sáng và phù sa, in ra năm 1960, và những bài chủ yếu trong tập, cũng chỉ được làm cách đó ít lâu, 1958, 59 gì đó. Bây giờ nhìn lại, thì thấy sau cuộc đấu tranh Nhân văn-Giai phẩm, có một hiện tượng kỳ lạ: nền văn học không những không bị tàn phá, mà lại có được sức sống mới: Nguyễn Tuân có Sông Đà, Xuân Diệu có Riêng chung, Nguyễn Khải cho in Xung đột, Bùi Đức ái bắt đầu nổi tiếng với Một truyện chép ở bệnh viện. Điều này không có nghĩa là đấu tranh chống Nhân văn hoàn toàn đúng đắn như sau này người ta giải thích, mà có lẽ nên tìm lý do ở sự hạn chế của nhu cầu dân chủ lúc ấy. Kháng chiến chống Pháp là một cuộc chiến tranh rất gian lao nhưng vẫn còn ở mức mà dân tộc này có thể chịu đựng được. Sự hồi sinh của dân tộc bắt đầu vào những năm sau 1954, sẽ lên đến đỉnh cao vào những năm 1960-61. Đấy là một ít năm tháng thịnh trị nhất trong đời sống Việt Nam sau cách mạng. Giữa con người với hoàn cảnh có một sự hoà hợp tuyệt vời, hầu như người ta có thể đạt được gần hết những điều người ta nghĩ. Do sự hạn chế của tầm nhìn, số đông còn dửng dưng trước nhu cầu dân chủ, và không hề thấy rằng ít nhiều Nhân văn-giai phẩm đấu tranh cho chính cái phần quyền lợi của mình. Vì thế, cho nên, “không khí phấn khởi” – như chữ người ta thường nói – sau vụ Nhân văn giai phẩm là có thật. Ở trường hợp của Chế Lan Viên, thì cuộc đời lúc ấy lại hai lần đáng yêu, vì nó, là cuộc sống mà hôm qua, tưởng đã mất hẳn. Giữa tết trồng cây và Tình ca ban mai… những bài thơ mang hơi thở phập phồng của sự sống ở một người khỏi bệnh, cho nên có sự quyến rũ rất chân thành. Giá kể chỉ dừng lại ở đây thôi, thì thơ Chế Lan Viên cũng đã hay lắm.
Nhưng từ sau ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên cũng bắt đầu một chặng đường mới trong cuộc đời của mình. Từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui là tên một bài tiểu luận rất hay người ta đọc được trên tạp chí Văn nghệ 5-1961. Và nhiều người lập tức hiểu rằng từ nay, đây sẽ là người phát ngôn cho những đánh giá chính thức về nền thơ Việt Nam. Liên tiếp, Chế Lan Viên xuất hiện với các bài đánh giá chung về thơ Việt Nam 1945-60, về thơ Tố Hữu… Nhà thơ và nhà lý luận song hành, đó là dấu hiệu của những người chủ trì của những cốt cán như Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu…
Một bậc thày
Thông qua một người bạn là Xuân Quỳnh, tôi có dịp làm quen với lao động nghề nghiệp của Chế Lan Viên từ những năm 67-68.
Nguyên hồi ấy, Xuân Quỳnh phải vừa lo học thêm về văn, vừa học thêm tiếng Pháp. Một người mới vào nghề trước Xuân Quỳnh ít lâu là Vũ Thị Thường cũng phải học vậy. “Tốt nhất là đối chiếu những bài thơ tiếng Pháp với bản dịch tiếng Việt, một công đôi việc, thật tiện.” Người có sáng kiến này chính là Chế Lan Viên. Vũ Thị Thường thấy phải, rủ Xuân Quỳnh học cùng. Và thế là đi đâu tôi cũng thấy trong cái làn của Xuân Quỳnh có một quyển sổ rất dày chép những bài thơ tác giả Điêu tàn dịch từ tiếng Pháp sang cho Vũ Thị Thường và Xuân Quỳnh học. Ấy là những bài thơ của Apollinaire, S.Prudhomme, Brecht, Evtouchenko… Người nào đã quen với thơ dịch trên báo đều biết: do yêu cầu có vần, nhiều khi bài thơ dịch lủng củng về vần ngô nghê tầm thường về ý, đọc rất khó chịu. Còn trong những bản dịch ra văn xuôi, nhất là ở một người thông thạo cả thơ lẫn tiếng Pháp như Chế Lan Viên, chất thơ hiện ra thân tình và bất ngờ. Lại mộc mạc nữa. Nên đọc rất thích.
Chúng tôi vừa đọc vừa nghĩ đến một nền văn học Pháp xa vời mà thế thệ chúng tôi không bao giờ với tới.
Thế mà những nhà thơ đàn anh như Xuân Diệu, như Chế Lan Viên lại sinh ra từ đấy… Đáng sợ thế chứ!
Một điều nữa, cũng để lại ngạc nhiên trong tôi là sự thông thạo của Chế về thơ Đường. Trong bài giới thiệu bộ Thơ Đường hai tập in ra 1963, Nam Trân có kể là đã nhờ những người sành về thơ Đường, như Thế Lữ, như Chế Lan Viên soát lại cho lần cuối cùng bộ sách ấy. Tôi đọc mà gần như không tin ở mắt mình. Nhưng đúng là thế chứ còn sao nữa. Không thế sao trong Ánh sáng và phù sa lại có những bài tứ tuyệt cỡ cổ điển: Nhớ xuôi trông mãi mảnh tin nhà… hoặc Hết nhớ hoa thôi lại nhớ người.
Khoảng 1973, sau một lần đi công tác với Chế Lan Viên vào đường 559, Nguyễn Minh Châu trở về còn cứ ngạc nhiên mãi về “bố” Chế. Nghĩa là “bố” rất lạ. Mỗi sáng dậy, phải học thêm một bài thơ Đường. Để làm gì không biết, nhưng cứ học cái đã và học thật đều. Người ta có thể không muốn bắt chước (đúng hơn, không thể bắt chước), nhưng người ta phải bái phục!
Cũng đáng bái phục là lao động của Chế Lan Viên trên từng câu thơ. Một lần Xuân Quỳnh dẫn ra một ví dụ
- Vinh quang nhất là những người nổ súng
Vinh quang hơn là những kẻ đi đầu
(Bài Trận tuyến này cao hơn cả màu da)
Lối nói Vinh quang hơn…, tiếp sau Vinh quang nhất… cái lối nói rất tây ấy, đối với chúng tôi, là cái gì không bình thường.
Xuân Quỳnh còn kể: Chế Lan Viên có lối làm thơ sẵn, ghi vào sổ từng câu thơ hoặc vài câu thơ một. Sau đó khi có tứ, lo cả bài, thì lắp vào những chỗ cần thiết. Giống như người ta đúc sẵn những tấm pa-nen để rồi khi cần sẽ dùng cần cẩu, cẩu tới ghép nên căn nhà. Cách viết ấy, trong giới làm thơ đâu có nhiều người biết áp dụng!
Hồi đầu chống Mỹ, nhóm anh em làm thơ trẻ khá đông. ồn ào, nhốn nháo như bất cứ đám trẻ nào, những Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương, Trúc Thông, Trí Dũng, Hoàng Hưng, Thi Hoàng, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật… thường đặt ra với nhau một câu hỏi: Theo ai bây giờ, theo Xuân Diệu hay Chế Lan Viên? Người nói phải theo Xuân Diệu. Vì Xuân Diệu tự nhiên. Người nói phải theo Chế Lan Viên. Vì Chế Lan Viên hiện đại. Số người nghĩ rằng phải theo Chế Lan Viên đông hơn (nói nghĩ rằng vì có khi nghĩ một đằng làm một nẻo, có ai có tôn chỉ chặt chẽ đâu). Một bậc cao niên trong nghề, nhà thơ Khương Hữu Dụng cũng tán đồng và giải thích hiện tượng này như sau:
- Ông Xuân Diệu là một người được trời phú. Còn ông Chế Lan Viên lấy công phu làm đầu. Theo người dụng công là phải.
Ngoài giai thoại “mỗi ngày học thuộc một bài thơ Đường”, chúng tôi còn được nghe nhà văn Nguyễn Thành Long kể: trước cách mạng, có lần Chế Lan Viên ra Hà Nội chỉ dể đọc sách. Ngày nào cũng tới thư viện. Xong là về! Thật là một ý chí đáng vì nể! Cộng với lối nói lối viết như thế nào đó làm cho người ta cảm thấy lúc nào ông cũng đọc, cũng đối thoại với những vấn để rất trừu tượng (có những người đọc đọc nhiều mà lẫn đi, giấu đi, không thấy dấu vết của những điều đã đọc trên trang giấy), Chế Lan Viên thật đã có cốt cách của một nhà thơ trí thức.
- Tại sao một người có thể làm việc nhiều như thế?
Đấy là câu hỏi tôi thường nghe được từ miệng nhiều người, qua đó họ tỏ ý thán phục Chế Lan Viên.
Tuy nhiên, đây đó cũng đã bắt đầu có người nói: chẳng qua Chế Lan Viên có một lối nói lợi hại. Ấy là một người lợi khẩu, một thứ trạng của nước An Nam xưa, nay tái sinh.
Nghe Chế Lan Viên nói nhiều khi sướng tai thật!
Nhà thơ H.T bảo ”Trong các buổi họp, anh Chế Lan Viên hay dìm tôi lắm”. Lời phàn nàn đến tai Chế. Ông bác lại:
- Người ta có nổi thì tôi mới dìm được. Đằng này ông H.T. ấy có nổi bao giờ?
Một lần khác, một người cho rằng ra tờ Tác Phẩm Mới thêm làm gì, nó cũng giống hệt như tờ Văn Nghệ.
- Nhưng còn rộng chỗ đăng. Ba thằng giống nhau còn hơn một thằng tự giống mình.
Trong các buổi họp thơ, ý kiến của Xuân Diệu và Chế Lan Viên thường khi là sắc sảo nhất, nhưng cũng lại thường trái ngược nhau, và nếu không có cả hai ý kiến ấy, buổi họp mất vui. Xuân Diệu có cái tâm huyết của mình, nhưng thường nói quá lên, đôi khi rất hớ. Chỉ cần phát hiện đúng chỗ yếu rồi điểm huyệt là tác giả Thơ thơ quỵ ngay. Ngươi biết làm cái việc điểm huyệt ấy thật giỏi là Chế Lan Viên. Xuân Diệu phàn nàn:
- Anh Chế Lan Viên anh ấy tài nói lắm. Có sai đứt đuôi đi nữa, anh ấy cũng vặn vẹo để đúng hơn mình. Về nhà mới biết rằng anh ấy nguỵ biện, nhưng lúc ấy, ôi thôi, mọi việc đã xong rồi.
Vâng, cái sắc sảo của Chế Lan Viên nhiều khi biến thành nguỵ biện. Nghe một lần thì thú, về sau đâm nhàm. Điều này rất rõ với văn xuôi Chế Lan Viên.
Hình như nhà thơ cũng biết chỗ chỗ yếu của mình như thế. Nghe đồn là con người mang bút hiệu Chàng Văn có lần lẩy Kiều:
- Cái nghề văn xuổi từ sau xin chừa.
Riêng tôi, tôi hay tự hỏi: Một phẩm cách quan trọng của trí thức là phải biết hoài nghi. Phải dè chừng. Phải nghĩ rằng lời nói của mình có thể sai có thể đúng. Chế Lan Viên thì bao giờ cũng tuyệt đối hoá ý kiến của mình, cũng cho các ý kiến ấy mang hình thái một định lý vĩnh cửu. Cái đó là phi trí thức chăng.
Một điều khiến tôi cũng lạ là mặc dù nói năng rất đàng hoàng vậy, nhưng Chế Lan Viên ăn ở rất lúi xùi, lối sống mang nặng cốt cách nhà nho nghèo ngày trước, có vẻ như không trọng vật chất, không cần tiện nghi. ‘Trong cách cư xử hàng ngày, đôi lúc ở ông thấy đắp đổi những trạng thái trái ngược nhau, sang trọng đàng hoàng đấy, mà cũng nhếch nhác thảm hại đấy.
Câu chuyện sau đây xảy ra vào hồi 1980. Nhà xuất bản của chúng tôi nhận được tập bản thảo Từ gác Khuê văn đến quán Trung Tân, còn đang tính kế hoạch in thì Chế Lan Viên đến.
- Thế nào, bao giờ các anh in?
- Thưa anh để chúng tôi còn xem xem vì kế hoạch năm tới đủ rồi.
Thế là Chế Lan Viên nổi xung lên:
- Bây giờ mà đã xong kế hoạch hả? Thế thì trả tôi, để tôi về tôi chùi giầy!
Rồi nhân cơn thịnh nộ, không kìm được, ông tuyên bố:
- Tôi là một trong những sáng lập viên của nhà xuất bản. Để tôi lại đề nghị giải tán nhà xuất bản, chứ bây giờ mà đã xong kế hoạch rồi à?
Có hai việc chúng tôi đã làm sau cơn giận dỗi ấy của Chế Lan Viên. Một là đảo lại kế hoach, đưa Từ gác Khuê văn đến quan Trung Tân in ngay trong năm 1981. Hai là, trong một đợt sinh hoạt chính trị, chúng tôi phê bình là Chế Lan Viên áp chế anh em. Điều kỳ lạ là hôm qua Chế Lan Viên chân thành bao nhiêu trong cơn giận của mình, thì hôm nay, Chế Lan Viên cũng chân thành bấy nhiêu trong sự hối hận. Rưng rưng cảm động, mắt đỏ lên vì những giọt nước mắt không sao ngăn nổi, ông nói như nói với ai khác, chứ không phải những người ông đã quát nạt hôm qua:
- Chế Lan Viên tôi mà lại còn tính chuyện áp chế ai!
Sau này, tôi mới biết rằng sở dĩ Chế Lan Viên cố ép Tác Phẩm Mới in ngày Từ gác Khuê văn… là bởi cũng năm ấy, nhà Văn Học ra cho ông tập Nghĩ cạnh dòng thơ. Nếu Nghĩ cạnh dòng thơ ra trước, thì Từ gác Khuê văn hết lý do để đến với bạn đọc. Khốn khổ! Thì nó cũng là cái bệnh thường thấy ở các nhà văn: bệnh muốn có mặt thật nhiều. Tuyển tập Xuân Diệu, 238 bài, thì Tuyển tập Chế Lan Viên phải 243 bài. Tôi nghĩ, giá đời sống được đảm bảo hơn, lý tưởng nghề nghiệp cao xa hơn, chắc các bậc đàn anh trong nghề chẳng phải khổ sở vì những chuyện vặt vãnh kiểu ấy.
Cho đến những ngày cuối đời, cuộc sống hàng ngày của Chế Lan Viên vẫn rất đạm bạc. Tên cái địa điểm, thường ký bên cạnh các bài viết của ông lúc này là: Viên Tĩnh Viên. Nghe thật sang, nhưng khốn khổ có gì đâu, một căn nhà hẹp ở ngoại ô Sài Gòn cũ!
Ở đó, Chế Lan Viên vẫn là mình. Ở đó, ông nói những chuyện cao xa của thời đại. Ở đó, ông bàn chuyện đổi mới cho văn học cả nước “Đổi mới chứ không phải là đổ máu..” “Thà phải đạo còn hơn phản đạo”. Với lối viết, lối nói sắc như dao, người này mà đứng về phía nào thì phía kia chỉ có chết! Nhưng cũng giống như bên cạnh những bài thơ câu cú thật dài, ý tưởng thật quyết liệt – những bài thơ đánh giặc, như Chế Lan Viên gọi – lại còn có những bài tứ tuyệt Hoa gạo, Tập qua hàng, Em về Dương liễu thôn… Giờ đây, bên cạnh những ham hố đấu người này trị người kia, Chế Lan Viên lại có những ý nghĩ rất hư vô về cuộc đời, mà bài thơ Từ Thế thi ca, lá thư gửi nhà văn Nguyễn Minh Châu, những lời dặn dò vợ con khi lên bàn mổ… là những chứng minh. Và trong hướng đi này, Chế Lan Viên cũng đi xa hơn ai hết!
Cái hoài nghi trí thức mà tôi mong mỏi thấy ở Chế Lan Viên lúc đang sung sức, cái hoài nghi ấy thật ra vẫn tiềm ẩn trong ông và đến lúc chết mới trình diện đầy đủ chăng? -Tôi nghĩ.
Trong đời, tôi không có may mắn được nói chuyện nhiều với ông. Sự quyết liệt thái quá của Chế làm cho một số chúng tôi ngại ngần khi đến với ông. Nhưng vượt lên trên mọi sự yêu ghét, chúng tôi hiểu ông vẫn là một bộ mặt tiêu biểu của thời đại. Nếu nói đến phê bình văn học một thời, phải nói đến Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức… thì nói đến thơ một thời phải nói đến những Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh và một người đứng ở hàng đầu, ở ngay bên Xuân Diệu, cũng giỏi viết tiểu luận như Xuân Diệu và tuy không công phu nhưng lại sắc sảo hơn Xuân Diệu nữa, người ấy là Chế Lan Viên!
Tập thơ Việt Bắc thiếu chất sống thực tế – Hoàng Cầm
Hoàng Cầm
Tập thơ Việt Bắc thiếu chất sống thực tế
Sức truyền cảm của đa số bài thơ trong tập Việt Bắc thường thường là đi từ từ, nhẹ nhàng vào lòng người đọc, rồi đi vòng quanh, lởn vởn ở bên ngoài chứ không đột phá vào một khía cạnh nào của tâm hồn cho thật sắc bén.
Bài “Cá nước”: tình cảm gặp gỡ giữa anh cán bộ và anh bộ đội cũng chỉ nhẹ nhàng lớt phớt:
Một thoáng lặng nhìn nhau
Mắt đã tìm hỏi chuyện
Ðôi bộ áo quần nâu
Ðã âm thầm thương mến.
Từ nguồn gốc sâu xa nào hai người mới gặp nhau mà trở nên thân thiết, bài thơ không gợi ra được. Ở đây tôi chỉ thấy hai người gặp nhau như một chút “duyên cá nước” rất ít mặn nồng như một cảnh gặp nhau thường, giữa hai người bạn. Sự gặp gỡ, cuộc nói chuyện giữa anh bộ đội và anh cán bộ chưa truyền cho người đọc một phút nào rung động mãnh liệt. Ðọc hết bài thơ tình cảm còn lại trong lòng tôi chỉ thoáng như một cơn gió mát của một buổi trưa hè, dịu dàng, thân mật và hơi gợn một chút buồn. Cái buồn ở ngoài lời. Lời ru cháu xa xôi văng vẳng của một bà cụ già, rồi “chia nhau điếu thuốc lào“, đến lúc “anh về xuôi tôi ngược“, thì cái buồn đã lên tới độ khá cao. Bài thơ êm êm rồi thoảng tan đi, không để lại trong lòng tôi một chút gì gắn bó thiết tha. Lòng anh cán bộ của thời đại yêu mến anh chiến sĩ bộ đội không những chỉ có cái bề ngoài ấy mà bên trong còn xoắn xít ràng buộc với nhau như gan với ruột, không thể có gì dằng xé ra được. Bài thơ không nói được bề sâu, chỉ mới thấy bề rộng. Ðọc lần đầu, cái không gian của bài thơ choán lấy tâm hồn tôi một lúc, như bóng rợp một đám mây giữa đường trời nắng. Bóng mây qua… “Tình cá nước” ở tên đề và ở câu kết cũng không bật lên được: cá nước từ đây dường như cũng cách biệt nhau, mỗi bên mang theo một kỷ niệm đẹp, lòng vấn vương như sau một giấc mơ. Ðâu, cái khăng khít, mật thiết cụ thể, từng giờ, từng phút của quân và dân trong một cuộc chiến tranh du kích?
Ðến tình cảm bài “Phá đường” mở đầu bằng “rét” và kết thúc bằng “gió rét trăng lu“, còn đoạn giữa tả một cảnh lao động bình thường, cặm cụi trong lúc “trăng non mới hé“, tất cả chỉ truyền vào lòng tôi một chút hơi thở nhè nhẹ của công việc phá đường, vẫn đượm một chút hắt hiu. Tại sao lại gió rét? Gió rét ấy có cắt nghĩa được cái gian nan vất vả của việc phá đường không? Tuyệt nhiên là không! Nó chỉ gợi được ra cái buồn. Tôi đã đi qua những nơi nhân dân phá đường hồi đầu kháng chiến. Một buổi sáng mùa hè, một đêm mưa, một trưa nắng gắt. Nặng nhọc vất vả ở hai cánh tay và ở cả trong lòng những người phá đường. Nhưng giặc đã đến đầu ngõ, phải phá ngay, không thì nó đi được nhanh, nó sẽ giết con mình, đốt nhà mình! Ðau đớn, nhưng mạnh mẽ quyết liệt. Bài thơ “Phá đường” cũng lại không truyền được tình cảm đó của thời đại.
Trong khi đó thì ở “Giữa thành phố trụi” không khí u tối, lạnh lẽo hiện lên ngay từ đầu:
Ðông lạnh ghê người
Chiếc lá vèo rơi xuống cỏ
và
Ô cửa mắt tròn thăm thẳm
Ai lên tiền tuyến đường muôn dặm
Tuy về sau, bài thơ cố gợi ra tương lai:
Ngày mai xanh lại từng cây
Ngày mai lại đẹp hơn rầy, hơn xưa
và
Từ trong đổ nát hôm nay
Ngày mai đã đến từng giây từng giờ…
Cái cảm giác chung vẫn là một sự tan vỡ, u uất. Mấy câu sau chỉ là suy luận, khái niệm chứ không truyền cảm. Cái hắt hiu cô đơn ấy lại rõ ràng trong “Bà bủ nằm ổ chuối khô”:
Ðêm nay tháng chạp mồng mười
Vài mươi bữa nữa tết rồi hết năm
và
Ngoài phên gió núi ù ù
Mưa đêm mưa tự chiến khu mưa về…
Cả bài, câu nào cũng ngậm ngùi, điu hiu vắng vẻ. Mà bà bủ lại “càng nghĩ càng căm thù“. Căm thù ai? Một ý nghĩ rất trừu tượng, đại khái. Cả bài là một tình cảm buồn vắng, nhớ con, nhớ đứa con bộ đội, con đi “bước run, bước ngã, bước lầy, bước trơn” và “năm xưa cơm củ ngon chi, năm nay cơm gié nhà thì vắng con“. Thật rất thương tâm, não nuột! Có một đồng chí bộ đội đọc bài thơ này thấy buồn quá, nói với tôi: “Mẹ tôi không nhớ tôi thế này”.
Tôi hỏi: “Thế nhớ thế nào?”
“Nhớ hơn thế này, nhưng mà… khó nói quá… không buồn thế đâu!”
Buồn, lạnh lẽo đến ghê rợn khi tôi đọc:
Xác ai nằm ngổn ngang
Bãi tuyết lặng quanh làng
Phố đổ nhà hoang vắng
Mẹ của em đấy ư?
Cái thân trắng lắc lư
Ðầu giây treo lủng lẳng
Cha của em đấy ư?
Cái đầu lâu rũ tóc
Máu chảy dài thân cọc
(“Em bé Triều Tiên”)
Không căm thù, chỉ thấy ghê rợn. Tuy về sau bài thơ cố tạo ra cái không khí chiến đấu rộn ràng vẫn không át được cái ghê rợn ban đầu. Không khí buồn, xa vắng vẫn kéo dài sau cái chết của đồng chí Sta-lin:
Trên đường quê sáng tinh sương
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng
Ngàn tay trắng những băng tang
Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời.
Ðành rằng sau một cái chết thì buồn, nhưng sau khi Sta-lin mất, cái buồn đã biến thành sức mạnh. Không khí và tình cảm bài thơ “Ðời đời nhớ ông” không phản ảnh được tình cảm thực của nhân dân ta sau cái chết đó: xót thương, nhưng rồi băng băng đi dân công, đi gánh thóc thuế, sôi nổi phát động đấu tranh chống giai cấp địa chủ toát ra “ngoài lời” ở khắp bài thơ, trong đó có cái ngậm ngùi trách móc của một đôi tình nhân chia tay, tuy miệng thì nói là chung thủy mà trong tình ý đã thấy là sẽ không gặp nhau bao giờ nữa.
Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông còn nhớ bản làng?
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?
Mình đi ta hỏi thăm chừng
Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui?
Ý hỏi thì nhẹ nhàng trách móc như thế, thấm thía như thế, mà trả lời thì gượng quá và hơi loanh quanh:
Ðường về đây đó gần thôi
Hôm nay rời bản về nơi thị thành
Nhà cao chẳng khuất non xanh
Phố đông càng giục chân nhanh bước đường
Người về xuôi không nói lên được là lòng vẫn ở Việt Bắc. Người ở lại núi rừng thì chỉ thấy xa xôi chia cách mà ít thấy hy vọng tin tưởng. Nhớ Hồ Chủ tịch, cũng lại thấy hình bóng người xa dần.
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người
Hai câu này khiến tôi nhớ đến câu thơ Nguyễn Du:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Cô đơn vắng vẻ, đó là hai cảm giác của bài thơ gợi ra.
Một cán bộ ở Việt Bắc về Hà Nội cuối tháng 10-1954 đã kể chuyện với tôi:
“Khi thấy bài thơ Việt Bắc tôi đọc và thích quá, tôi ngâm cho một gia đình ở vùng Chợ Chu nghe. Cả nhà sụt sịt khóc. Cảm động quá. Nhưng sau đó, tôi vẫn phải tạ từ, đeo ba lô đi. Nhìn lại, trong bóng tối nhà sàn: ông ké, bà mé và chị con gái vẫn ngồi im, khóc lặng lẽ. Tôi cũng cảm thấy như không bao giờ mình còn trở lại Việt Bắc nữa. Thật là một cảnh chia ly đau xót.”
Bài thơ “Việt Bắc” đã dựng lên cảnh chia ly ấy và bồi thêm mũi kim đau xót vào chỗ yếu đuối nhất của lòng người.
Và bài thơ vớt vát lại ở hai câu kết giả tạo, gượng ép:
Cầm tay nhau hát vui chung
Hôm sau mình nhé, hát cùng Thủ đô
Người ở lại Việt Bắc thấy cầm tay gượng, ậm ừ với lời chào hẹn chiếu lệ nghe đã quá quen tai. Chưa kịp nghĩ đến bao giờ “hát cùng Thủ đô”, hát thế nào và cái hát ấy có sẽ bù được sự chia ly hay không thì… thôi thế là xa rồi!
*
Với nội dung truyền cảm trình bày trên kia, tập thơ Việt Bắc đã tạo nên những hình ảnh như thế nào của những tình thế, nhân vật điển hình của thời đại?
Ðầu tiên là hình ảnh anh bộ đội:
Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
và
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo
Có những hình ảnh cụ thể do tác giả vẽ nên và có những hình ảnh không vẽ ra, nhưng do toàn bộ bài thơ để lại, thí dụ như trong các bài “Bắn”, “Voi”, “Bao giờ hết giặc”, v.v…
Nói chung hình ảnh bộ đội trong tập thơ Việt Bắc là hình ảnh đẹp một cách mỏng manh, mờ nhạt như dáng dấp một người lẩn trong sương, trong một bức tranh chấm phá. Con người bằng xương bằng thịt, có bao nhiêu tình cảm, lúc bồng bột, lúc vui buồn, hờn giận, thương xót, lúc vào bộ đội, khi nhớ quê hương đồng ruộng, cha mẹ vợ con, khi tác chiến anh dũng, khi nhịn đói hành quân, lúc chia sẻ ngọt bùi cay đắng với cán bộ, với đồng đội, tôi chưa tìm thấy trong thơ Việt Bắc. Chỉ thấy những hình ảnh chung chung, gặp bất cứ ở chỗ nào, thoáng qua và mờ dần vì không rõ hình nét, không “thực” đến độ in sâu vào lòng người.
Anh bộ đội trong bài “Cá nước” chỉ thấp thoáng trên lưng đèo rồi lại đi. Anh bộ đội Tây Bắc:
Quê hương anh đó, gió sương mù
Và rú rừng đây của chiến khu
Cỏ ngập đồng khô mờ lối cũ
Tan hoang làng cháy khói căm thù
Anh đi rất nhiều, gian nan cũng lắm, lòng anh chưa có gì bật lên trong bài thơ và kết cục thì “anh nằm sưởi nắng mắt lơ mơ“. Bà bủ nhớ con bộ đội, trong ý nghĩ của bà thấy anh bộ đội bé bỏng đáng thương:
Nó đi đánh giặc đêm nay
Bước run, bước ngã, bước lầy, bước trơn
Nhà còn ổ chuối lửa rơm
Nó đi đánh giặc đêm hôm sưởi gì?
Trong bài “Voi”, tôi thấy có anh bộ đội khiêng pháo lên đèo, thấy gian nan khó nhọc nhưng mới thấy ở “chữ”, chưa thấy ở “người”. Nghe như kể một câu chuyện vác pháo gian lao khó nhọc, bài thơ mới tả cảnh chứ không dựng được người “bộ đội khiêng pháo” anh dũng và vĩ đại trước mắt tôi.
Còn ở bài “Bắn”, thì hình ảnh anh bộ đội là một tượng gỗ tay cầm giây súng và có hình ảnh một anh bàng quan đứng ngoài hô hào gào hét ầm ỹ, giục pho tượng giật giây nổ súng bắn cho hả.
Năm phút nữa: Sao mà lâu thế nhỉ
Anh pháo binh, anh còn đợi chờ gì?
Không thấy anh pháo binh đâu, chỉ thấy một người nào đứng ngoài múa tay hoa chân giục bắn:
Anh pháo binh, anh chưa bắn đi à?
Một phút nữa. Ðầu tôi cháy bừng lên như cục lửa
Sướng bao nhiêu chốc nữa sẽ thành than.
Anh pháo binh không trả lời (vì có anh ấy đâu mà trả lời). Người nào đó lại gọi:
Ơi các anh xung kích dưới cỏ âm thầm
Hãy sẵn sàng tay mác nhảy lên đâm
Giết, bắt sống không mống nào được thoát.
Bài thơ tuy có vẻ sôi nổi giục bắn, mà thực ra bàng quan lạ lùng. Việc bắn là việc của anh bộ đội, đứng ngoài hò hét như thế không những không động viên được bộ đội, mà còn làm cho anh pháo binh bực mình. Anh bộ đội trước khi bắn, tâm tư thế nào, không ai biết, lại chỉ thấy tiếng giục, và kết thúc bằng một câu rất khó chịu:
Anh đại bác, tôi chờ anh để hát!
Còn hình ảnh chú bé liên lạc (trong bài “Lượm”):
Như con chim chích
Nhảy trên đường vàng
Lượm là người thân yêu khi bị giặc bắn chết mà người còn sống lại thấy cái chết ấy đẹp và nhẹ:
Cháu nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng
Chú Lượm chết không khác gì một con chim trúng đạn chết ở giữa đồng lúa. Rồi cái chết ấy thoáng đi, trên đường vắng lại có những con chim chích khác.
Hình ảnh một em bé liên lạc của kháng chiến, một em bé thân yêu ruột thịt của những cán bộ, của bộ đội của nhân dân, sống thế nào, chết thế nào? Sau cái chết ấy, hình ảnh của em còn lại trong lòng người thế nào, chua xót, đau đớn, nhưng trong trẻo, mạnh mẽ thế nào? Bài thơ chỉ để lại trong óc tôi hình ảnh của một con chim đẹp, sống hồn nhiên, chết tự nhiên. Nhà thơ đau đớn và căm thù ở chỗ nào?
Ðến hình ảnh lãnh tụ, là đúc kết những tinh túy của quần chúng. Hình ảnh lãnh tụ chính là hình ảnh vĩ đại của quần chúng lao động đang đấu tranh, và cuồn cuộn đi đến một tương lai tốt đẹp.
Ta thường ví Hồ Chủ tịch với “ngôi sao”, với “trời biển” với
Cây hải đăng mặt biển
Bão táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ kháng chiến.
Tôi chưa thấy bài thơ nào tả đúng lãnh tụ, tả đúng Hồ Chủ tịch, chỉ mới có những bài thơ, những đoạn thơ tả đúng một phần, hoặc tả bề ngoài hoặc thần thánh hóa, tách rời lãnh tụ với quần chúng.
Trong tập thơ Việt Bắc, tôi thấy Hồ Chủ tịch:
Người ngồi đó với cây chì đỏ
Chỉ đường đi từng phút từng giờ
… Bác Hồ đó ung dung châm lửa hút
Trán mênh mông thanh thản một vòm trời
… Bác đang cúi xuống bản đồ
Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo
Lãnh tụ xa xôi và cách biệt, có lúc giống như một đạo sĩ đi nhàn du trong núi rừng:
Áo nâu, túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Hồ Chủ tịch của chúng ta không những chỉ có thế. Tất cả hình ảnh trên mới là một đôi chút bề ngoài của Hồ Chủ tịch. Còn những giờ Người ra tiền tuyến, đến bên cạnh dân công, bộ đội; Người ở nông thôn, bàn bạc chuyện trò với các cụ phụ lão nông dân, Người ở đâu đến đâu thì quần chúng thêm mạnh mẽ phấn khởi.
Hình ảnh Hồ Chủ tịch trong tập thơ Việt Bắc thong dong nhiều hơn là hành động và lúc hành động tôi thấy “cây chì đỏ”, “cúi xuống bản đồ” và nhân dân nhìn lên Hồ Chủ tịch chưa thấy ấm áp gần gũi, dù có những câu: Ta bên Người, Người tỏa sáng ta, Ta bỗng lớn ở bên Người một chút, tôi vẫn chưa thấy “sáng” ở chỗ nào và “lớn” ở chỗ nào.
Cách ca ngợi lãnh tụ như thế chưa phải là tình cảm của toàn dân đối với Hồ Chủ tịch.
Nghệ thuật tập thơ Việt Bắc có nhiều sức thấm vào lòng người đọc, vì nó hay gợi cái buồn kín đáo, man mác. Thời đại chúng ta có nhiều cái buồn, nhưng cái hơi buồn của một số bài thơ tập Việt Bắc là một hơi thở đã trở thành cũ kỹ, lạc hậu, trong khi thời đại chúng ta đang tràn đầy một niềm vui lớn, một sức chiến đấu mãnh liệt, băng băng tiến tới…
Tập thơ Việt Bắc cũng có “nói” đến những cái đó, nhưng chưa “xây dựng” những cái đó. Vì chỉ “nói” thôi nên có thể êm tai, đẹp mắt, nhưng giả tạo, gò ép.
Ðây, vui mừng giữa những người về giải phóng Hà Nội và những người ở Hà Nội giải phóng:
Hôm nay về lại đây Hà Nội
Giàn giụa vui lên ướt mắt cười
… Ðường quen phố cũ đây rồi
Thủ đô tươi dậy mặt người như hoa
…Tay vui sóng vỗ rạt rào
Người về kẻ đợi, mừng nào mừng hơn
“Mừng nào mừng hơn” chưa thể bao hàm cái mừng vô cùng trong ngày lịch sử giải phóng Hà Nội.
Và đây là quang cảnh Hà Nội giải phóng.
Hồ Gươm xanh thắm quanh bờ
Thiên thu hồn nước mong chờ bấy nay
Bây giờ đây lại gặp đây
Quốc kỳ đỉnh tháp, sao bay mặt hồ
Sao quang cảnh thủ đô giải phóng lại “tĩnh” và lặng lờ như thế? Bài thơ “Lại về” là tâm trạng của một người du lịch se sẽ rung động vì cảnh, vì người gặp lại, rồi trong lòng lại yên tĩnh như không. Lạnh lùng, bàng quan và giả dối.
Biết đâu bao nhiêu đau đớn quằn quại, bao nhiêu lúc vùng lên, ngã xuống rồi lại quật khởi cho đến ngày giải phóng thì tất cả Hà Nội trào lên như sóng bể.
Còn tình cảm chiến đấu? Cả bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” nói đủ ý về chiến thắng Ðiện Biên Phủ, nói đầy đủ quá nên không chen vào chỗ nào được những tình cảm con người của chiến dịch Ðiện Biên. Bài thơ đó là một bài tham luận về chiến dịch Ðiện Biên đã thi vị hóa bằng một kỹ thuật khá điêu luyện.
Ðao to búa lớn:
Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp
Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp
Một loạt hình ảnh một chiều, cứng nhắc, kém sinh động:
Chiến sĩ anh hùng
Ðầu nung lửa sắt
…Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Ðầu bịt lỗ chân châu mai
…Những bàn tay xẻ núi lăn bom
Những hình ảnh ấy đã có sẵn ở chiến trường và ở trong cảnh thực còn sâu sắc hơn trong bài thơ. Nếu bài thơ muốn ôm tất cả, cả đến Hội nghị Giơ-ne-vơ, thì còn hàng nghìn hình ảnh nữa cần phải nêu ra. Bài thơ đầy đủ quá cho nên thiếu thốn. Và kết luận:
Nhân dân Việt Nam anh dũng
Ðã cầm súng tiến lên
Nhất định hoàn toàn thắng lợi
Một khẩu hiệu chính trị đã nêu lên ngay từ khi toàn quốc bắt đầu kháng chiến. Khẩu hiệu diễn biến trong tâm trạng người dân Việt Nam, trong lòng anh bộ đội thành những tình, những ý gì thầm kín, sâu sắc? Khẩu hiệu đó đã tạo ra bao nhiêu hình ảnh đẹp, mạnh, sinh động vô cùng trong thời đại chúng ta? Muôn sắc muôn màu, muôn hình vạn trạng trong chiến dịch Ðiện Biên, ta không thể tham vọng nói hết trong một bài thơ và lại kết luận bằng khẩu hiệu.
Người đọc, đọc một bài báo tóm tắt về chiến dịch Ðiện Biên và đọc một bài thơ trên, có thấy gì khác không? Bài thơ dễ lọt tai hơn, thế thôi. Anh bộ đội đã chiến đấu ở Ðiện Biên Phủ, không thấy được ở bài thơ chút gì tâm sự, bè bạn thâm tình. Nhiều độc giả bộ đội khen bài thơ hay rồi hôm sau thì quên. Bộ đội muốn có những bài thơ để nắn nót chép vào sổ tay, đút vào túi ngực, giữa hai đợt chiến đấu lại giở ra đọc, lúc vui, lúc lo nghĩ là lại lấy bài thơ làm người bạn tâm tình. Ða số bài thơ về bộ đội đã có trong tập Việt Bắc chưa thành người bạn tâm tình của bộ đội.
Vì nhiều bài thơ rộng quá, tổng hợp quá, “chính trị” quá, nên nó bao quát và tất nhiên trở nên chung chung đại lược. Ta đi tới, ta đi khắp cả và nhất định “ta đi tới” thống nhất đất nước. Lời đẹp, ý đúng, tình cảm bay rộng khắp nhưng không xoáy chặt vào lòng người. “Ta đi tới” cũng giống như “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” từ đầu đến cuối rất đầy đủ về ý nghĩa chính trị. Ở bài “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” tôi thấy những câu những chữ rắn chắc, sấm sét, hùng mạnh, đến bài “Ta đi tới” tôi thấy những chữ những câu bóng bẩy, tha thiết, trùng điệp những tên thị trấn địa phương để khêu gợi lòng yêu đất nước. Một cảnh lấp lánh ánh sáng khắp nơi, khi lại gần thì nhạt nhẽo, không thấy đẹp nữa.
Ở một số bài thơ gần đây của Tố Hữu, tôi thấy như vậy: Ðầu tiên thì nêu lên một vấn đề rồi tiếp đến suy luận bằng những câu văn đèm đẹp. Thành phố đã phá trụi thì nhất định là ngày sau phải tưng bừng. Cha mẹ em bé Triều Tiên chết treo khủng khiếp, em bơ vơ lạc lõng thì nhất định là có cả một dân tộc ở bên em, săn sóc cho tương lai em, và nhất định em sẽ sung sướng. Ðã chia ly Việt Bắc thì sau phải nghĩ đến Việt Bắc và trao đổi hàng hóa với Việt Bắc. Ðiện Biên đã thắng thì nhất định ở Hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ thêm điều kiện thuận lợi đấu tranh với kẻ thù. Thật khó mà tìm thấy một khuyết điểm nào về ý nghĩa chính trị. Những bài thơ đó đầy đủ thế, nhưng rất ít chất của cuộc sống một dân tộc đã đấu tranh gay go phức tạp và đã giành được thắng lợi hòa bình. Tôi thấy bài “Ta đi tới” hoặc bài “Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên” giống như một vại nước to, đầy tràn, pha loãng một màu sữa. Loãng quá. Tôi thèm một cốc dù nhỏ thôi, nhưng chan chứa những chất sống nuôi dưỡng tâm hồn.
Theo ý tôi, giá trị thơ không phải ở chỗ đầy đủ mạch lạc về một vấn đề chính trị. Thơ phải đi vào từng góc cạnh của tâm hồn từng lớp người đang xây dựng thời đại mới. Muốn nói tất cả phải đi sâu vào một khía. Và nhiều bài thơ góp lại, mỗi bài một góc tâm hồn khác nhau sẽ thành ra toàn bộ phản ảnh thời đại đi vào hiện thực chủ nghĩa. Như vậy từ con người đang dào dạt sức sống kết lại thành thơ, chứ không thể từ một khái niệm về đời sống, từ một luận đề chính trị viết ra thơ, dù rằng lúc viết, tác giả cũng cố tìm cảm xúc và tạo hình ảnh. Làm như thế, dễ rơi vào công thức, giả tạo. Và lập trường chính trị trong thơ chính là nói đúng được sự sống và xây dựng tâm hồn của con người đang sống trong một thời đại cách mạng. Ở thời đại chúng ta, cái hiện thực xã hội chủ nghĩa nhất là ở lòng người dân đang tiến lên đè bẹp đế quốc và phong kiến. Sức sống mãnh liệt này tôi thấy rất ít trong tập thơ Việt Bắc. Tôi đã ngâm nga những bài đứng về phía đánh đế quốc chủ nghĩa để xem con người Việt Nam đứng lên tiêu diệt đế quốc xâm lược ra sao? Tôi thấy nhiều chữ, nhiều lời, nhiều cảnh đẹp và buồn, ít thấy hình ảnh con người điển hình của thời đại hiện ra bằng xương thịt rắn chắc, bằng đau đớn xót xa, bằng bước đi vững chãi. Thơ nói:
Ta đi tới trên đường ta bước tiếp
Rắn như thép, vững như đồng
Ðội ngũ ta trùng trùng điệp điệp
Cao như núi, dài như sông
Tôi vẫn chưa thấy con người bước đi rắn như thép cụ thể ở chỗ nào. Và “trùng trùng điệp điệp” chỉ là bốn chữ cố khêu gợi sức mạnh nhưng bản thân sức mạnh ấy không hiện ra.
Còn những con người đau khổ tủi nhục vì bị giai cấp địa chủ bóc lột đến xương tủy, những người nông dân ngấm ngầm nuôi sức mạnh và rồi ào ào tiến lên, phá tung cảnh đọa đày của mấy nghìn năm phong kiến, tôi chỉ thấy vẻn vẹn có hai câu nói hăng hái nhưng trống rỗng:
Những bàn chân đã vùng dậy đạp đầu
Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp!
Ðọc thơ và ngâm những bài thơ trong tập Việt Bắc, nhiều khi tôi thường có cảm giác buồn ngậm ngùi, đôi lúc xa vắng. Có ấm áp cũng là cái ấm áp mong manh chóng tắt và thấy cái đẹp cũng nhè nhẹ mơ màng. Ðôi khi thấy tha thiết mến thương nhưng không được bao lâu vì nhẹ quá và rộng quá. Tôi thèm ở Tố Hữu những bài thơ tâm sự với mình lâu dài. Nhưng trong tập Việt Bắc, phần lớn tôi chỉ gặp những bài rủ rỉ một lát rồi thôi.
Rồi tôi suy nghĩ: Những bài thơ nào diễn tả lòng người sâu sắc nhất, lòng người của một thời đại, nhất định đều để lại trong lòng người ta những hình ảnh rung động lâu bền nhất. Tập thơ Việt Bắc ít chất thực tế để đúc thành thơ. Ðành rằng cần phải có những bài thơ do suy luận, nhằm mục đích hô hào, động viên, nhưng thực chất của bài thơ vẫn phải tìm trong cuộc sống sâu sắc. Thiếu sự sống phong phú, thơ trở nên vô duyên, khô khan, dù lời đẹp ý tốt. Tôi đã đọc nhiều bài thơ “mới nghe thì hay, nghe nhiều lần thì chán”. Ðó cũng là cảm tưởng cuối cùng của riêng tôi đối với tập thơ Việt Bắc.
Văn nghệ, s. 67 (1.4.1955)
Nguyễn Đình Thi trong tôi -Nguyễn Đình Thi ngoài tôi
Anh Thi ơi!
Hà nội, nơi địa linh đã nuôi dưỡng và tạo nên biết bao nhiêu nhân kiệt cho dân tộc chúng ta, nơi chính anh đã để lại cho đời một khúc tráng ca duyên dáng hào hùng: “Đây Hồ Gươm… Hồng Hà…Hồ Tây…” để hôm nay anh đi vào cõi phiêu diêu những Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tôn, Nguyễn Trãi…, những Hồ Xuân Hương, Lê Ngọc Hân, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều và lung linh những Tản Đà, Hàn Mặc Tử. Anh về cõi ấy anh sẽ đứng đâu trong cái bầu hư vô xanh xám kia, chắc hẳn con cháu chúng ta sau này rồi sẽ nhận rõ.
Nhưng có thật là duyên nợ không, hay do hai người mang hai bản chất ngược chiều nên suốt 60 năm, mặc dầu có nhiều lúc rất gần nhau mà không hiểu sao, anh và tôi vẫn cứ rượt ra khỏi cái đáng lẽ ra phải có Ngọn lửa tôi nhen lên chưa kịp ấm đã tắt. Tôi nâng tàu lá sen hứng vừa tròn một giọt sương mai, giọt sương thoắt đã bốc hơi. Như trên biển lớn, thuyền nan tôi cố bơi đến với anh, thoắt cái anh đã xa, vẫn nhìn thấy nhau mà xa, xa tít tắp. Khi viết bài này, tôi đã phải cố gắng nối lại sợi dây đứt quãng nhiều đoạn. Những trang tâm sự rất chân thực này, xin gửi với đất với trời, gửi đến hương hồn anh, hẳn anh sẽ chứng giám cho lòng thành của tôi, nếu có điều gì linh hồn anh khó chấp nhận cũng mong anh lượng thứ.
I.
Ngay khi mở đầu những năm bốn mươi của thế kỷ trước, người ta thấy xuất hiện một cái tên tác giả trên bìa những cuốn sách khảo cứu dày cộm: khảo cứu dịch thuật, giới thiệu đôi ba triết thuyết phương Tây. Nào Kant, Nietzche, Descartes. Một cái tên rất mới mẻ, trẻ trung và tươi tắn như đang muốn bay ra khỏi tủ kính những hiệu sách lớn ở Hà nội: Nguyễn Đình Thi.
Năm ấy tôi cũng vừa chân ướt chân ráo bén mảng vào một cái làng nghe ra có vẻ xa hoa, lại có vẻ hỗn độn kiêu kỳ mà hấp dẫn lắm: làng Văn. Một anh trai quê mãi tới năm 16 tuổi (1938) mới biết đến cái cầu Đu-me (tên ta là cầu Long Biên), đứng trước cái nguy nga tráng lệ của những lâu đài, dinh thự và cuộc sống náo động đô thành, tôi chỉ là anh học trò ngây ngô, như hình thù một chữ trong từ điển Larousse của Pháp thời bấy giờ: lơ nha quê (người nhà quê). Anh trai quê là tôi lúc ấy, lấy làm kính phục một người cầm bút chắc cũng xấp xỉ tuổi mình đã bạo gan và kiên nhẫn bỏ ra một đống thì giờ hẳn là khá lớn để giới thiệu cho độc giả Việt nam biết đến những nhà triết học đồ sộ của thế giới.
Thời gian ấy, tôi đã có cái bằng tú tài toàn phần. Mà anh Thi chắc cũng đã là cậu tú chỉ sau tôi vài năm. Tôi không chịu đi làm, hoặc thi vào một trường cao đẳng nào của xứ thuộc địa, mà chỉ mải mê chơi: chơi kịch, chăn thơ, chơi ả đào. Có lẽ vì giang hồ mê chơi” [1] như thế, nên từ năm 1940 đến 1945, tôi sống ở Hà nội luôn mà chẳng một tổ chức chính trị nào của cách mạng thèm chú ý đến một anh thi sĩ trẻ mà chăn dắt cho cậu ta hoạt động trong các đoàn thể của Việt Minh như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao… (Câu hỏi này là lời tôi tự vấn vào cuối năm 1948 khi tôi đã bước đi vững vàng trên đường kháng chiến chống Pháp). Tôi hoang mang khi tự giải đáp cho mình cái điều thắc mắc ấy, không biết nên buồn hay không buồn.
II.
Thế là …Cách mạng tháng Tám đã thành công, lần đầu tôi gặp Nguyễn Đình Thi. Bấy giờ, tuy tôi cũng đã là anh bí thư đoàn thanh niên cứu quốc xã Lạc Thổ, làng quê gốc của tôi, những khi ra Hà nội, với lòng mong muốn thiết tha được biết mặt Cụ Hồ, tôi vẫn là anh lơ nhà quê với dáng vẻ quê mùa, trước một đại biểu Quốc dân đại hội Tân Trào, một uỷ viên trong uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, mà có mấy anh bạn thân giới thiệu tên là Nguyễn Đình Thi cái tên mới lạ tôi đã biết từ năm 1942 trên bìa mấy quyền sách triết học dày cộp ấy. Trước mặt tôi, sừng sững một anh chàng cao lớn, da ngăm ngăm đen, đôi mắt tinh anh, giọng nói uyển chuyển ấm áp. Đặc biệt là bộ âu phục sang trọng đắt tiền, màu đen óng chuốt, cái ca vát đỏ tươi màu mào gà, khiến tôi cảm thấy anh đúng là hình ảnh tiêu biểu cho khí thế cách mạng lúc mới giành được chính quyền. Đôi giày da đen đánh bóng càng làm tăng cái uy phong của một nhà cách mạng trẻ tuổi. Còn tôi chỉ như cậu bé ngu ngơ lẽo đẽo đi theo ở đằng đuôi. Nỗi mặc cảm này ngự trị trong tôi suốt từ ngày Tổng khởi nghĩa ở Hà nội cho đến khi lên Việt Bắc, tôi gia nhập Vệ quốc quân.
III.
Trước Tổng khởi nghĩa, một nhóm văn nghệ sĩ tự do chúng tôi đã thành lập một ban kịch lấy tên là Đông Phương. Theo sự chỉ đạo của cán bộ Việt Minh tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi thường lưu động diễn nhiều vở kịch ngắn ở sân đình, sân chùa các làng thuộc huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành, có khi ở cả Hà nội, Hải phòng… Cách mạng có chính quyền rồi, chúng tôi càng ra sức củng cố và phát triển ban kịch với khát vọng sẽ công diễn được vở kịch thơ lịch sử quy mô là kịch thơ Kiều Loan mà tôi đã viết xong từ cuối 1943.
Theo gợi ý của các bạn mà tôi quen biết từ khi mới vào làng văn (1943) là các anh Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nam Cao, tôi đã viết một lá đơn trình Hội Văn hoá cứu quốc trình kịch bản Kiều Loan cùng lời kiến nghị xin Hội trợ cấp tài chính ít nhiều, để động viên ban kịch Đông Phương chúng tôi khởi công dàn dựng Kiều Loan cho kịp ngày khai mạc Đại hội Văn hoá toàn quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ chủ toạ đại hội này). Tôi đưa đơn đến tận tay anh Nguyễn Đình Thi, lúc đó đang là Tổng thư ký Hội Văn hoá cứu quốc, đơn kèm theo kịch Kiều Loan. Rồi tôi hồi hộp chờ đợi…
Với tôi hồi ấy cách mạng như một người khổng lồ mà tôi thì bé bỏng xa lạ quá. Cái uy thế của cách mạng tôi không thấy rõ lắm ở những người như các anh Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Kim Lân, Nguyên Hồng, nhưng lại thấy nổi bật hẳn lên ở anh Nguyễn Đình Thi. Ngồi trước mặt anh, bên cái bàn giấy lộng lẫy có đủ cả máy điện thoại và hai chồng sách dày, bìa cứng in nổi chữ vàng chữ bạc: Các Mác với vấn đề văn hoá, Tư bản luận, Chống Du-ring…tôi hoa cả mắt và cảm thấy mình là con chim chích vào rừng…
Không khí cuộc gặp mặt bỗng trở nên nghiêm trang và lời mở đầu câu chuyện của anh Thi lại càng làm cho nó thêm lạnh nhạt, căng thẳng:
- Tôi đã nhận được vở kịch của anh. Cả lá đơn nữa. Anh Nguyễn Huy Tưởng và anh Nguyên Hồng đã giới thiệu Kiều Loan với tôi. Tôi cũng đã đọc qua …
Vừa nói, anh Thi vừa rút ở cái cặp da đen bóng tập bản thảo vở kịch đánh máy của tôi. Anh trao nó cho tôi với một nhếch mép cười mà cho đến nay tôi vẫn không sao hiểu được, nhất là câu nói ngay sau cái cười nửa miệng ấy:
- Rằng hay thì thật là hay!
Hai tiếng cuối câu đay xuống, tôi nghe như có vẻ vừa giễu cợt vừa hững hờ. Và anh Thi cũng chỉ nói có thế. Không hơn nửa lời. Rồi anh thu dọn sổ sách, như có ý bảo tôi “Về đi!”. Cũng để cho anh lính mới làng văn biết rằng mỗi giờ mỗi phút với anh Thi là vàng ngọc đấy! Tôi thấy mình như bé quá, bất cứ lúc nào nhớ đến anh, bất cứ ở đâu, lời anh nói khi đưa trả tôi kịch bản Kiều Loan vẫn cứ day dứt trong tâm trí mình: Một lời khen ư? Không chứng minh được! Một liên hệ giữa câu Kiều ấy với thời đại ta đang sống? Cũng không đến mức to tát thế.
Hoặc giả là một ý so sánh nhân vật Kiều Loan với nhân vật Thuý Kiều!
Rằng hay thì thật là hay… Chưa đến lúc bình phẩm như vậy, vì đã nói gì với nhau đâu về cái tác phẩm kịch thơ ấy của tôi.
IV.
Dạo ấy, tôi cũng đang theo đuổi một người nữ đẹp và sắc sảo, gần một năm mà chưa nên hoa trái gì, tôi có viết mấy câu thơ, vẫn còn nhớ đến bây giờ. Tiện đây, xin được chép ra, cũng là để liên hệ đến sự giao thiệp giữa tôi và anh Thi từ năm 1945.
Bấp bênh thuyền sóng lũ
Có mấy chiều đổ mưa
Con bướm nào đã ngủ
Có phải mũi tên thần mũi tên thần
Lao nhanh vào ánh lửa
Hay leo teo sợi cỏ
Nghiêng sang mùa du xuân?
Gió bay đi mù khơi
Phải chăng là bão tố
Phải chăng là duyên số
Mà xa nhau thật rồi.
Đầu năm 1949, anh Lê Đạt, phái viên của Tổng bí thư Trường Chinh từ ban tuyên huấn được cử sang Hội Văn nghệ làm trợ lý cho ông Tố Hữu. Vốn là một anh sinh viên rất trẻ, rất sôi nổi, vừa đặt chân đến Hội, Lê Đạt đã làm thân với các bậc cha chú như Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Nguyễn Xuân Khoát. Bấy giờ, Hội đã tập hợp được hầu hết những văn nghệ sĩ có tên tuổi, anh Lê Đạt thấy không khí trong cơ quan Hội có vẻ bằng phẳng trầm lặng quá, con người ưa hoạt động như anh hình như rất khó chịu. Anh bèn nghĩ ra mấy việc nhằm khuấy động cái không khí công chức ấy lên, tạo ra một không khí chiến đấu, luôn luôn sôi động, gây men sáng tạo liên tục và mạnh mẽ. Vậy thì, Lê Đạt khởi xướng ra cuộc tranh luận về một đề tài mới mẻ và có vẻ hấp dẫn lắm: Vấn đề thơ không vần của Nguyễn Đình Thi. Tôi không dự “cuộc thơ” chắc là lý thú ấy! Ít lâu sau cuộc tranh luận về thơ làm chấn động ít nhiều dư luận trong giới văn nghệ ở Việt Bắc, tình cờ, một hôm tôi gặp anh Thi trên đường Thái Nguyên – Đại Từ. Anh Thi cùng đi với Trọng Hứa và Nhị Ca. Gặp tôi, anh Thi chỉ chào hỏi qua quít rồi lại cúi xuống đọc một xấp giấy đánh máy, như là một tài liệu gì quan trọng lắm, nhân lúc nghỉ chân cần phải tranh thủ đọc lại. Tôi hơi buồn bèn quay sang tán chuyện với Nhị Ca và Trọng Hứa cũng làm việc ở văn phòng hội (bấy giờ cơ quan Hội đóng ở bản Yên Giã, huyện Đại Từ, Thái Nguyên). Anh Nhị Ca sôi nổi cho tôi biết về cuộc tranh luận thơ không vần từ tháng trước, giọng Nhị Ca rất vui, anh nói:
- Tiếc quá! Cậu không dự hôm ấy, giá có cậu thì có lẽ cũng góp được nhiều ý kiến bênh vực cho cái gọi là thơ không vần. Đằng này chỉ có tớ với Lê Đạt thêm một thằng Lưu Quang Thuận. Và anh Bửu Tiến. Cũng may có thêm bác Phan Khôi. Ông già này lại bênh rất hùng hồn, mày ạ. Còn một tá những ông già khác không chịu nói gì, hoặc có nói lại về hùa với ông Lành. Anh Thi đâm ra yếu thế, sau cứ đành giơ sườn ra cho các ông ấy thụi. Thành thử, cái loại thơ tự do không vần bị ăn một trận đòn đếch cãi vào đâu được.
Tôi ôn tồn nói với Nhị Ca, nhưng chính là để nói với anh Thi đang ngồi bên cạnh:
- Cái dở ngay từ đầu dẫn đến thất bại của thơ tự do hôm ấy là tại các cậu đặt vấn đề sai. Nói chuyện thơ, chẳng ai và chẳng lúc nào, chẳng chỗ nào có cái thể loại thơ không vần để đem ra làm chủ đề tranh luận cả. Chỉ có thơ và thơ. Còn về chất lượng chỉ nên bàn thế nào là thơ hay, thơ xoàng, thơ tồi. Về hình thức, có khi trong một bài có những câu dài dằng dặc đến 12, 14 chữ, như trong Tương Tiến Tửu của Lý Bạch, câu đầu 17 chữ rồi câu thứ hai cũng 17 chữ chạy liền một mạch như rượu chảy ồng ộc ở chai ra. Tất cả đều phải gọi là thể thơ tự do. Tại các cậu đưa ra thảo luận về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi làm như nó là một thể loại thơ đã định hình từ lâu, mà ở nước ta bây giờ mới có Nguyễn Đình Thi là người dám đem ra sử dụng vậy. Vấn đề các cậu đặt ra để thảo luận là thế nên ông Lành mới có cớ để phê phán và bác bỏ cái loại thơ này. Còn nếu chỉ đề ra thảo luận Về một số bài thơ gần đây của Nguyễn Đình Thi thì chẳng ai dám bảo đó là loại thơ “vô dụng, phí giấy mực” như lời ông Lành kết luận.
Tôi nói một tràng như thế, hai anh Nhị Ca và Trọng Hứa đều ngồi yên lắng nghe. Tôi thấy anh Thi có thay đổi thái độ đôi chút. Lúc đầu, anh vẫn chăm chú vào mấy trang đánh máy. Khi tôi nói đến nửa chừng, anh nhìn tôi một thoáng rồi buông tập giấy xuống bên cạnh, mắt đăm đăm nhìn ra quả đồi có vài khóm trúc trước mặt, như vẫn chăm chú nghe. Có lẽ vì những câu nói của tôi có ý bênh vực cho những bài thơ của anh bị ông Tố Hữu nặng nề phê phán chăng? Khi chia tay, tôi trở ngược, ba anh về xuôi, trong cái bắt tay tạm biệt, tôi nhìn thẳng vào mắt anh Thi. Tôi thấy, vâng, đúng thế, lần đầu tiên anh Thi hé ra một nụ cười hồn nhiên và thành thực tuy có đôi chút e dè.
Và rồi câu nói sau cùng của anh cũng như bắt đầu một hơi thở chân thực trước một người “đồng chí, đồng nghiệp, bạn chưa hẳn là bạn”. “Hôm nay gặp Cầm, mình rất vui”. Cái dáng vẻ lịch sự xã giao, vẻ vồn vã ân cần rất kiêu kỳ, thái độ dửng dưng từ lần đầu tiên đến hôm ấy đã gần bốn năm, tôi cảm thấy với anh thật khó gần. Về sau, thắng Điện Biên Phủ rồi, về Hà nội, có lần gặp anh Lê Đạt, tôi cũng trách anh đã đặt sai chủ đề thảo luận đến nỗi làm anh Thi cụt mất hứng làm thơ. Tài năng hình như không theo tỉ lệ thuận với tầm vóc con người và chức danh trong xã hội. Cho đến hôm ấy, dẫu là gặp nhau tình cờ, tôi vẫn chưa thấy một lần nào anh Thi sống thật như tuột nghệ sĩ, một thi sĩ đích thực.
Anh luôn có ba bốn con người đối lập cùng chung sống trong một cơ thể cường tráng, một khối óc bề bộn nhiều triết thuyết, tưởng như thông tuệ mà yếu ớt, một tâm hồn đầy đam mê mà đâm ra lúng túng, tinh tường mà lắm nỗi rối ren. Tôi có một vài kỷ niệm cũng vui và cũng hơi buồn về bản chất đam mê của anh.
V.
Năm 1954, đoàn văn công Tổng cục Chính trị được lệnh về tiếp quản thủ đô. Đoàn của chúng tôi hơn bảy chục người, được cấp trên cho kén chọn những diễn viên ưu tú nhất trong số hơn hai trăm nam nữ diễn viên và nhạc sĩ, kịch sĩ ưu tú của loàn quân. Đoàn đóng quân và làm việc ở mấy toà biệt thự đối diện nhà thờ Liễu Giai. Suốt thời gian từ ngày 10.10.1954 đến hết năm dương lịch, hầu như chúng tôi phải biểu diễn cả ngày và đêm, ở các sân khấu thủ đô, trong sân hoặc thềm nhà một số xí nghiệp, nhà máy, công sở, trường trung học, rồi đình chùa, sân phơi thóc các thôn làng ngoại thành. Thường thì đêm diễn, ngày phải ôn luyện rất nhiều tiết mục đơn ca, tốp ca, đồng ca, ngâm thơ, kịch nói, kịch dân ca, múa dân tộc, múa nước ngoài… Công việc thì bề bộn mà kỷ luật làm việc trong quân đội lại rất nghiêm, hầu như không có ngày nghỉ trong cả tuần, cả tháng.
Trong những ngày tháng tưng bừng rộn rã ấy, anh Thi còn phải nằm điều dưỡng ở Quế lâm, Trung Quốc. Đầu năm 1955, tôi mới thấy anh xuất hiện ở Hà nội. Một sớm vào khoảng 8 giờ, các diễn viên của tôi đã bắt đầu vào chương trình luyện tập. Anh Thi đi xe đạp thẳng đến cái biệt thự được chọn làm trụ sở của đoàn. Được báo tin có khách, tôi với xuống nhà, anh Thi bắt tay tôi rất ân cần và nói se sẽ nhưng khẩn khoản:
- Anh Cầm, cho phép mình gặp Th. L. một lát, chỉ dám xin anh mười phút thôi.
Trước sau, dẫu suốt 8 năm kháng chiến chống Pháp, với tôi, anh Thi rất “người dưng nước lã”, nhưng tôi vẫn giữ một lòng yêu mến kính trọng anh. Thấy anh nói có vẻ khẩn khoản, lòng tôi có cảm giác của người đồng tình đồng điệu, vì con người tôi thật ra cũng thuộc về cái “nòi tình” từ cái thuở “em 12 tuổi tìm theo chị” [2] . Tôi bèn cười rất “bầu bạn” cởi mở, phá tan ngay cái không khí rụt rè, khép nép kia đi:
- Anh Thi, sao lại mười phút? Mời anh vào phòng làm việc riêng của tôi. Thi có thể chuyện trò với cô ấy ít nhất trong vòng một giờ .
Tôi dẫn anh vào phòng, anh cần vụ của đoàn mang lên một phích nước sôi, ấm chén và một gói trà loại ngon nhất. Tôi thân mật nói:
- Thi ngồi đây nhá. Mình sang chỗ phòng tập, mời Th. L. về.
Anh Thi hơi cúi đầu, vẻ mặt rạng rỡ. Tôi sang phòng tập yêu cầu nhạc sĩ Lê Đoá chuyển cái tiết mục có Th. L. tập ấy xuống dưới, cách ra độ một tiếng và dẫn Th. L. về gặp anh Thi. Thấy Th. L. hơi ngần ngại, tôi phải nói ngay:
- Ô hay! Có việc gì ghê gớm đâu mà trông em có vẻ sợ sệt thế! Chả là anh Nguyễn Đình Thi, bạn anh, là Tổng thư kí Hội Văn nghệ ấy mà, anh Thi muốn gặp em để hỏi chuyện về nghệ thuật ca múa thôi, em có đồng ý cho anh ấy gặp em không?
Cô Th. L. vẫn có vẻ e dè, tôi nói vui:
- Em thì chắc là chưa quen biết lắm. Anh Thi cũng như anh thôi mà. Anh chị em cùng một gia đình văn nghệ sĩ cả, có quan to quan bé gì đâu mà em ngại. Nào nếu em đồng ý thì đi với anh.
Tuy khép nép, Th. L. vẫn tươi tỉnh đi theo tôi. Th. L. mới 18 tuổi còn rất ngây thơ, nhưng tôi tin cuộc “tao ngộ” giũa một người lãnh đạo văn nghệ từng trải và một diễn viên múa mà tôi vui lòng thu xếp cho cuộc gặp này, dẫu chẳng đi tới chỗ tốt đẹp cho cả hai người thì cũng “vô thưởng vô phạt”. Sau buổi đó, tôi nghĩ tôi với anh Thi sẽ trở thành hai người bạn thơ khăng khít, cùng đem hết khả năng để cùng làm việc cho một nền thi ca rực rỡ của dân tộc và đất nước. Vậy mà, rồi sau, có lẽ do vị trí xã hội của hai người có một khoảng cách khá xa nên không vẫn hoàn toàn không.
Trong vòng một tháng, vẫn ở chỗ ấy anh Thi còn đến thêm hai lần nữa, mỗi lần có rút ngắn thời gian lại, lần sau ngắn hơn lần trước, cho đến một hôm, sau tết âm lịch, cô Th. L. có mạnh dạn đến gặp tôi và rụt rè nói rất nhỏ:
- Anh ơi! Từ nay về sau anh đừng bắt em gặp anh Thi nữa nhé.
Tôi hơi sửng sốt và cũng thấy ngượng ngùng đành phải nói với Th. L.:
- Khổ! Có bao giờ anh “bắt” em phải gặp anh Thi đâu? Th. L. cứ nhớ xem, lần nào anh cũng hỏi lại: có đồng ý không? Em gật đâu rồi anh mới đưa em đến. Đúng không? Thôi được em không đồng ý nữa thì thôi. Đừng bao giờ nghĩ rằng anh cậy là người chỉ huy bắt buộc em phải làm việc này việc nọ nhé!
Th. L. lúc đó mới tươi tỉnh:
- Vâng, em không dám nghĩ thực. Chỉ vì em nể anh quá mà anh Thi cũng rất tốt với em. Vậy em xin lỗi. Em cảm ơn anh.
Bẵng đi đến ba tuần lễ, không thấy anh Thi đến. Một buổi tối, đoàn văn công chúng tôi đã mở màn đêm diễn trong sân nhà máy điện Yên Phụ, tiết mục đầu: Ca cảnh giải phóng Điện Biên của Đỗ Nhuận vừa xong thì anh Thi lại đột ngột xuất hiện sau cánh gà sân khấu ngoài trời. Anh rụt rè nói với tôi vẫn cái giọng giao đãi:
- Anh Cầm ơi! Thật phiền anh quá. Vì công việc vội, xin phép anh cho mình gặp B. D. độ dăm bảy phút thôi.
Tối ấy dẫu tôi thấy cũng hơi “phiền” thật tôi vẫn bị cái thói quen “cả nể” nó lấp mất lý trí. Lại vẫn cái “nòi tình”, khiến tôi thấy cảm thông ngay với người bạn-chưa-bao-giờ- thân-thiết-ấy, và tôi lại thu xếp như các lần trước. Rồi lại phải nói khó với Hồng Minh, là người chỉ huy đêm diễn:
- Cậu giúp mình, cái tiết mục có B. D. diễn ấy, nếu nó sắp tới rồi thì cậu chuyển nó xuống cuối chương trình, chỉ ra trước cái “sạp” thôi… (đêm diễn nào, điệu nhảy “sạp” cũng là tiết mục kết thúc).
Hồng Minh chẳng nghe tôi một cách dễ dàng như Lê Đoá, anh hỏi lại đoàn trưởng một cách nghiêm chỉnh:
- Vì sao thế anh? Cái tiết mục này khá dài, mà đi với cái “sạp” kết thúc thì em sợ…khán giả người ta hơi nản đấy anh ạ. Vả lại hai cái múa đi liền với nhau e rằng… Từ trước, có ai sắp xếp chương trình, tiết mục một đêm diễn như thế đâu? Có thật cần phải chuyển chương trình như thế không anh?
Khó lý giải cái “lệnh” rất vô nghĩa của mình quá, tôi đành nói thật, tuy rằng vẫn là dối trá:
- Hồng Minh à, cậu biết anh Thi rồi chứ? Bạn thân của mình đấy!
Mỗi lần nói đến anh Thi bằng hai tiếng “bạn thân” tôi cảm thấy ngường ngượng vì cứ nghĩ rằng người nghe sẽ tưởng mình “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Ai không biết anh Nguyễn Đình Thi lúc ấy có uy danh rất cao trong số văn nghệ sĩ trẻ, lãnh đạo Hội chỉ đứng sau một người (là ông Tố Hữu thôi). Còn tôi, đã không là đảng viên, lại chẳng có vai vế gì bên Hội cả, chỉ có mấy bài thơ nổi tiếng tạm thời lúc kháng chiến ban đầu như Đêm liên hoan, Tâm sự đêm giao thừa, Bên kia sông Đuống, sự nổi tiếng ấy cũng chỉ lặng lẽ, chìm lắng trong một số cán bộ dân sự và quân sự, chưa lúc nào ồn ào, phơi lên mặt báo hay trong hội nghị nào ở đâu cả.
- Bạn thân của mình đấy Minh ạ. Mai anh ấy phải sang Liên Xô từ sớm, anh Thi cần gặp một diễn viên múa ưu tú vào loại nhất, chắc là để hỏi kinh nghiệm và tài liệu để trao đổi với các bạn văn nghệ sĩ Nga hay Tiệp, hay Đức, Pháp gì gì đó nên anh ấy mới cần gặp B.D. ngay.
Tôi viện lý do bằng cách nói dối Hồng Minh như vậy. Mà cũng chỉ là chiều theo ý riêng một người tôi yêu mến, tuy bạn chẳng phải là bạn, cấp trên chẳng phải cấp trên. Vả lại, từ khi “nhập thế cục” tôi chưa bao giờ biết nịnh nọt ai, tâng bốc ai. Mà ngược lại, đôi lúc thẳng thắn phê bình ai đó lại đâm ra dại dột, chuốc lấy vạ vào thân.
Vốn là cán bộ trong quân đội đã lâu, Hồng Minh rất vui tính, hay bông đùa, rất tinh ranh khi vặn tôi thêm một câu nữa, tôi đã không trả lời được lại còn bị ngượng đến đần mặt ra trước anh cấp dưới thân thiết mà tinh quái của mình.
- Sao anh Thi không hỏi em để lấy kinh nghiệm ca múa? Em vừa là nhạc sĩ, vừa là biên đạo múa thì lại không hỏi, mà lại hỏi một cô mới nhập môn có 6 tháng. Chắc hẳn em kém cô B.D. vì trời sinh ra em lại không phải là cô gái 20 tuổi có nhan sắc. Thôi được rồi. Em xin nghe lệnh đoàn trưởng để “bạn thân” của anh có nhiều thành tích vì tình nó đang thách anh Thi ấy mà.
Nhiều lúc anh Hồng Minh này “chơi chữ rất tài tình như thế đó. Rồi cậu ta ôm lấy tôi rất thắm thiết, cười rất tế nhị rồi chạy ngay đến chỗ đội múa đã chuẩn bị để ra sân khấu trình diễn.
Đêm ấy, anh Thi được phép mời cô B.D. sang một tiệm cà phê xế cửa nhà máy đèn, chuyện trò với B.D. chừng 15 phút rồi quay lại nói cảm ơn tôi xong thì nhảy lên xe đạp phóng nhanh trên đường phố Châu Long. Hôm sau tôi có hỏi B.D. xem cô ấy có ý kiến gì về cuộc gặp không hẹn trước ấy không, liền được nghe B.D. rất phép tắc:
- Anh Cầm ơi. Vì anh nói anh Thi là bạn thân của anh, vả lại anh ấy cũng đã ngoài 30 tuổi rồi, có vợ và ba con rồi, nên em cũng coi như anh cả của em ở nhà vậy. Còn chuyện thì cũng có đôi điều thú vị đấy ạ. Hôm qua gặp anh Thi tự nhiên em đâm ra có thêm nhiều hiểu biết về các “bậc đàn anh” như các anh đấy – Cô B.D. cười hóm hỉnh, rồi hạ giọng nói tiếp – Nhưng từ nay, nếu anh Thi có đến xin phép anh cho gặp em thì anh cứ từ chối kheo khéo hộ em đi anh nhá. Đừng để em…
Cô ấy ngừng lời… Rồi B.D. [3] lại cười rất vui vẻ và…thế là hết chuyện.
VI.
Vào khoảng cuối năm 1948, đoàn văn nghệ [4] lưu động của tôi nhận được một ca khúc của Nguyễn Đình Thi – bài ca Người Hà nội, dưới bài có ghi thời gian sáng tác: xuân 1947.
Thời gian ấy trung đoàn thủ đô đã giam chân giặc Pháp trong thành phố thủ đô đến gần hai tháng, nện cho chúng những đòn ác liệt, tiêu hao khá nặng lực lượng xâm lược, làm đổ sụp cái cuồng vọng đánh nhanh thắng nhanh của chúng, buộc chúng phải chờn, phải gờm những anh vệ quốc quân và các anh sao vuông [5] của Hà nội. Tôi tin là anh Thi đã có nhiều xúc động mạnh mà cũng rất lãng mạn khi viết ca khúc này trong thời gian quân ta chiến đấu ngoan cường ở từng góc chợ, từng ngôi nhà ở Hà nội. Mà anh Thi, như hình ảnh tôi được tiếp xúc hồi Cách mạng tháng Tám, thật đúng là người Hà nội, mà tiếng Pháp thời ấy gọi là “Hà nội yêng” (Hanoiiên). Tôi triệu tập ngay Văn An, nhạc sĩ tài năng trong đơn vị văn nghệ của mình, yêu cầu anh xướng âm và hát tạm để tôi “nghe xem thế nào” (chính là vì tôi điếc nhạc). Mới đọc được các lời in dưới các nốt nhạc, tôi hình dung ra được cái hùng tráng, cái chất trữ tình sâu sắc của anh Thi. Tôi tin bài ca này khi đoàn tôi biểu diễn sẽ thu hút khán giả ghê lắm. Quả nhiên, anh Văn An mới tạm hát thôi, giá mà anh Thi có mặt ngay ở chỗ tôi lúc ấy chắc tôi sẽ lao vào ghì chặt lây anh như ôm một người tình lần đầu trao xương gửi thịt. Tôi yêu cầu anh Văn An bố trí ngay các ca sĩ của đoàn thành một dàn đồng ca gồm hai mươi diễn viên ưu tú nhất. Diễn tập trong vòng có ba ngày, bài hát ra mắt ngay trong một hội nghị quân sự liên khu. Tôi không ngạc nhiên vì sự thành công vang dội của nó vì tôi đã cảm thấy trước rồi. Từ buổi diễn ấy, bài hát được truyền ngay đến các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương và cả dân quân lan sang cả các cơ quan hành chính toàn chiến khu. Suốt năm ấy đến năm 1949, đi đâu cũng nghe thấy tiếng hát Người Hà nội, do tôi phân công nhiều nhạc sĩ, biên đạo múa và diễn viên xuống dạy hát cho các đơn vị bộ đội chủ lực và địa phương toàn liên khu I. Tôi càng yêu anh Thi hơn, mặc dù anh không chú ý mấy đến anh chàng có biệt danh là “Con oanh vàng đất Bắc” này (vì thời trẻ tôi cũng đã từng là một chàng ngâm thơ cổ, thơ mới, đủ các thể loại bằng một giọng ngâm tươi trong, có độ vang xa, có độ trầm lắng sâu, thấm vào lòng người nghe, nên nhiều cán bộ trong quân đội tặng tôi cái danh vị khá trân trọng “Con oanh vàng đất bắc” ngay từ những ngày đầu đánh giặc Pháp).
Từ năm 1949, đoàn văn nghệ liên khu Việt Bắc do tôi làm trưởng đoàn đến tháng 7 năm 1952, tôi được đại tướng Nguyễn Chí Thanh điều động lên làm đoàn trưởng đoàn văn công tổng cục Chính trị, tiết mục bài hát Người Hà nội mà tôi rất yêu quý, luôn có mặt trong các chương trình biểu diễn của đoàn. Đến nay, tôi càng vững tin rằng trong các tác phẩm của anh Nguyễn Đình Thi đã ra đời (nào thơ, nào tiểu thuyết dài, ngắn, nào kịch nói, nào ca khúc, nào lý luận phê bình) thì ca khúc Người Hà nội sẽ sống lâu hơn hết với tổ quốc, với nhân dân, còn “lâu” là bao lâu thì không ai dám khẳng định.
Cái “ngày mai” sau khi một nghệ sĩ tài danh qua đời hao hao giống như một màn trắng sương mù, ai dám tự khoe mình là người nhìn thấu được cái ngày mai của Nguyễn Du? Thi hào Tố Như cũng chỉ dám tự hỏi rằng ba trăm năm sau khi mình qua đời biết còn ai khóc cho cái số kiếp đau khổ của mình không? Còn theo các nhà lý số học phỏng đoán, cả nhà tiên tri lớn là cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ may ra nhìn trước được những việc lớn của nhân dân và đất nước ta trong vòng ba trăm năm là cùng. Vậy nếu tôi cứ liều anh mà nói rằng: Một trăm năm nữa nghĩa là sang đầu thế kỷ XXII, dân ta còn nhớ và hát bài Người Hà nội thì cũng chả ai tin, nhưng cũng không ai mắng tôi là nói láo vì đến hôm nay ai cũng thừa nhận đó là một bài hát hay. Triết lý dân dã Việt nam nói: “yêu nên tốt”, còn một nhà triết học phương Tây cũng đã nói: “Khi yêu, người ta thường nói bốc lên đôi chút, đó là một nét tâm lý phổ quát của mọi con người trong đời sống xã hội của mọi dân tộc, mọi thời đại”. Vậy thì anh Thi ơi, hôm nay anh cứ thanh thản mà yên nghỉ trong lòng mảnh đất Hà nội, rồi sang đầu thế kỷ XXII tôi sẽ cùng anh thức giấc vào nửa đêm nào đó, rồi hai đứa chúng mình sẽ cùng lắng nghe xem: đúng là có một đám thanh nữ hình như đẹp lắm và đông lắm đang hát véo von: Đây Hồ Gưom, Hồng Hà, Hồ Tây. Đây lắng hồn núi sông ngàn năm…
VII.
Tháng Chạp năm 1955, tôi chuyển ngành, tạm biệt đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị mà tôi làm trưởng đoàn đầu tiên, khi đoàn văn công đã vượt quá ngưỡng trưởng thành, phải phân ra làm nhiều đoàn chuyên ngành: đoàn kịch nói, đoàn chèo, đoàn quân nhạc, đoàn ca vũ, đoàn nhạc giao hưởng. Tôi được phân công làm trưởng đoàn kịch nói từ 1.1.1955. Cuối năm ấy (12.1955) vì một chuyện riêng sinh ra mâu thuẫn gay gắt giữa tôi và ông Cục phó Cục tổ chức (cũng nằm trong Tổng cục Chính trị) nên tôi đã chuyển ngành sang Hội Văn nghệ Việt nam, tạm thời làm cán bộ trong nhà xuất bản Văn nghệ, đọc và duyệt rồi đưa in những tác phẩm của anh chị em văn nghệ sĩ sáng tác trong thời gian kháng chiến chống Pháp.
Một sáng đầu năm 1956, anh Thi đến nhà xuất bản Văn nghệ đưa cho tôi đọc tập thơ Người chiến sĩ tập hợp những bài anh sáng tác từ những ngày tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến, và anh Thi yêu cầu tôi cho ấn hành ngay, càng sớm càng tốt. Tôi đọc xong, rất thú vị vì vẫn còn nguyên những bài thơ thể tự do mà lúc bấy giờ các anh Lê Đạt, Nguyễn Đình Thi đặt thành một luận đề để tranh luận là thơ không vần rồi hứng lấy thất bại. Bấy giờ (1956) mà in được những bài thơ cách tân ấy thì thật có lợi cho phong trào thơ và chỉ ít lâu nữa là có thể sánh vai bình đẳng với nền thơ các nước phương Tây.
Sau khi để anh em ban biên tập của nhà xuất bản đọc kỹ và thẩm định, ba ngày sau, tôi ký ngay phiếu xuất bản, gửi xuống nhà in Tiến Bộ. Tôi cũng quyết định ngay số lượng in tập Người chiến sĩ của Nguyễn Đình Thi là hai mươi ngàn cuốn! (Hồi ấy, sở dĩ thơ in được nhiều thế vì cơ quan phát hành của nhà nước sẽ phân phối sách đến các nhà sách nhân dân toàn miền Bắc rồi đến các thư viện từ trung ương đến các cấp tỉnh, huyện, xã chưa kể một số lượng không nhỏ gửi sang Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa).
Tập bản thảo chép rất gọn, đẹp của anh Thi vừa đưa xuống nhà in Tiến Bộ hôm trước thì hôm sau tôi nhập được một cú điện thoại.
Chuông máy điện thoại reo, giọng nói Huế rất êm ái, rất tình cảm của ông Lành đầu dây bên kia. Tôi tiếp chuyện:
- Vâng, nhà xuất bản Văn nghệ đây. Tôi là Hoàng Cầm, thưa anh, có chuyện gì thế ạ?
- Nghe nói, nhà xuất bản Văn nghệ sắp cho in tập thơ gì đó của anh Nguyễn Đình Thi hỉ?
- Thưa anh, đúng thế ạ. Tôi đã ký phiếu in và gửi cả bản thảo xuống nhà in Tiến Bộ rồi ạ.
- Anh Hoàng Cầm hỉ! Tôi đề nghị anh hoãn lại đừng cho in vội.
Tôi hơi sửng sốt, tuy cũng cảm thấy vấn đề này có trục trặc gì đó.
- Thưa anh, vì sao thế ạ? Toàn thể anh em biên tập đã đọc và thấy tập thơ không có vấn đề gì sai trái với đường lối chính trị đâu ạ. Đó là một tập thơ tốt.
- Tốt thì có tốt, nhưng bây giờ in ngay rồi phát hành đến các tầng lớp quần chúng, nhất là công, nông, binh thì có khi lại hóa ra không tốt.
- Dạ, tôi chưa hiểu rõ ý anh về tập thơ ấy.
- Cũng đơn giản thôi, trừ một số bài, còn hầu hết là thơ không vần. Quần chúng độc giả của ta hiện nay, trình độ cảm nhận thơ còn thấp, họ mà đọc tập thơ này, tôi tin chắc rằng họ không hiểu, vì trước hết người ta khó thuộc, thơ gì mà lổn nhổn, câu ngắn, câu dài tuỳ tiện. Quần chúng đã khó hiểu, không thuộc thì in ra có ích gì cho họ? Thơ như vậy thì phục vụ ai?
- Vâng, thưa anh, thế thì hoãn đến bao giờ mới in được ạ?
- Hoãn là để anh Thi sửa lại đã, sửa cho có vần có điệu quen thuộc, người ta mới hiểu, mới thích đọc rồi mới có tác dụng tốt, để anh Thi chữa, muốn bao giờ xong thì xong. Có thể từ một đến ba tháng.
Đến đây, giọng ông Lành trong máy đột nhiên vui và rõ ràng hơn, tôi nghe cũng dễ hơn lúc trước.
- Nè, Hoàng Cầm, chừ tôi là một độc giả trình độ i tờ hỉ. Tôi thử đọc một bài không vần của anh Thi nhé. Anh nghe xem liệu độc giả là công nông binh, người ta có thích không?
Rồi ông Lành đọc luôn một bài thơ không vần và quả thật có hơi trúc trắc về âm điệu ở đôi ba chỗ. Tôi nghĩ, nếu đúng độc giả là nông dân thì cũng không thể thích được một bài thơ như thế.
Tôi lại nói như để tán thành ý kiến người lãnh đạo cao nhất trong giới văn nghệ:
- Vâng, thưa anh, đúng như anh nói. Có đôi chỗ hơi lủng củng thật. Thôi để tôi cử người xuống nhà in rút bản thảo về rồi trả lại cho anh Thi.
Lúc ấy giọng ông Lành êm dịu và ấm áp hẳn lên:
- Thế còn Hoàng Cầm có dự định in lại Bên kia sông Đuống không? Bài thơ ấy tốt đó. Nông dân, công nhân người ta sẽ dễ nhớ đó. Thôi cảm ơn Hoàng Cầm hỉ.
Sau buổi tôi nói chuyện với ông Lành, anh Thi đã đến ngay nhà xuất bản hỏi tôi để lấy lại bản thảo. Tôi làm như không có cuộc trao đổi với ông Lành về tập thơ Người chiến sĩ.
- Anh Thi ạ, tập thơ của anh, chúng tôi thấy rất “được”, có lẽ chính nó sẽ mang lại một luồng gió đổi mới cho chúng ta. Tôi đã đưa xuống nhà in rồi.
Anh Thi đáp, giọng buồn rầu, nhỏ nhẹ:
- Thôi Cầm cứ cho mình xin lại bản thảo, không in vội.
- Sao thế anh Thi? Mình tưởng tập thơ thế là hoàn hảo rồi? Cứ thế mà in. Tôi sẽ cho in rất đẹp và có thể mời họa sĩ Nguyễn Sáng hay Dương Bích Liên vẽ cho một phụ bản màu.
Anh Thi nài nỉ :
- Để mình sửa chữa lại. Thú thật, anh Lành đã có đọc tập thơ này, trong khi anh Lành chưa có ý kiến gì, mình muốn đưa cho Cầm để xuất bản thật nhanh. Nhưng gần đây, khi nghe nói mình đã đưa bản thảo xuống nhà xuất bản thì anh ấy gọi mình lên và khuyên mình nên sửa một số bài mà anh ấy cho là lủng củng. Vẫn là những ý kiến của anh ấy đã phát biểu trong kháng chiến. Mình đã tranh luận với anh ấy. Cuối cùng anh Lành vẫn bảo mình nên chữa lại cho độc giả công nông dễ hiểu, dễ thuộc. Thôi thì…người ta là lãnh đạo mà.
Tôi chỉ còn một cách rất thân mật nói với anh Thi:
- Chắc anh Thi cũng thừa lý luận để hiểu rằng, không ai sửa chữa thơ mình theo ý người khác, dẫu người ấy là cấp trên. Nếu không thể cưỡng lại anh Lành thì anh cứ hoãn thật lâu, kiên quyết không sửa gì cả, đợi một lúc nào đó tình hình văn nghệ có biến chuyển tích cực, tôi sẽ lại đứng ra chịu trách nhiệm in cho anh. Đã là thi sĩ, hãy cố giữ cái bản sắc riêng, tội gì theo ý người khác để đánh mất bản ngã của mình?
Anh Thi lần ngần đứng dậy, nói bằng một giọng kiên quyết tuy hơi yếu:
- Thôi, mai nhé…Tôi sẽ đến lấy bản thảo về. Mà có lẽ mình theo ý Hoàng Cầm, chưa xuất bản vội. Còn có chữa bài nào, câu nào là theo ý mình chứ không theo ai cả.
Hơn một tháng sau, khoảng 5.1956, anh Thi lại cầm bản thảo Người chiến sĩ đến nhà xuất bản gặp tôi. Anh nói:
- Dẫu sao tôi cũng phải nhân nhượng ông Lành. Cũng không theo ý ông ấy hoàn toàn, nhưng vì tôi đã là đảng viên từ lâu, cũng không muốn tỏ ra điều gì khiến người ta có thể kết tội mình là bất tuân thượng lệnh hoặc như bây giờ người ta bảo mình là cố ý không chịu sự lãnh đạo của Đảng. Vậy mong Hoàng Cầm cho in thơ của mình theo bản thảo này.
Trong khi đưa tay vào cái túi vải đựng khá nhiều tài liệu để lấy ra cái bản thảo tập thơ mới sửa chữa, anh Thi còn nói thêm một câu khiến tôi cũng đâm ra hoang mang:
- Trí thức văn nghệ sĩ chúng mình đã đi với cách mạng vô sản thì ít nhiều cũng phải hy sinh cái bản ngã của mình dẫu là bản ngã tốt đẹp!
Thế là trong phút giây, tôi chợt nghĩ, Thi nói vậy có lẽ đúng chăng? Mà nói đến tinh thần cách mạng thì mình phải kém Thi rất nhiều chứ!
Anh Thi trao cho tôi tập bản thảo mới, giấy trắng, đánh máy đẹp, đóng bìa khá dày. Tôi cầm tập thơ, chỉ mới giở vài trang đầu, đã thấy có gì gờn gợn trong người. Hóa ra anh chữa khá nhiều. Có bài đã rất vững vàng về ý tứ, âm điệu, anh đã chữa toàn bộ thành ra đủ vần điệu kiệu cũ khiến tôi đã như bực bội. Chắc là lúc ấy, mặt tôi đỏ gay gắt và ngấm ngầm có một cái gì cứ trào lên nghén nghẹn ở cổ họng. Tôi đã muốn nói thật to một câu gì đó cho đỡ bực, nhưng may quá, tôi nén lại được. Tôi kết thúc cuộc gặp bằng giọng nói bình thản, gần như vô hồn:
- Vâng, để cả ban biên lập chúng tôi đọc lại. Ba ngày nữa, tức là sáng thứ bảy này, mời anh đến thảo luận lần nữa về việc in tập thơ này.
Dẫu không tán thành việc anh Thi chữa thơ mình theo ý cấp trên, tôi cũng không dám chủ quan, đưa luôn tập Người chiến sĩ mới sửa chữa này đến tận tay anh em biên tập viên, yêu cầu mọi người đọc kỹ lại tập thơ rồi suy nghĩ kỹ, cho ý kiến riêng của trình để chiều thứ sáu tới thì hội ý chung trong toàn ban. Hôm ấy mới là sáng thứ hai, còn những bốn ngày để ba biên tập viên và tôi xem kỹ lại bản thảo. Khi giao nó cho anh em biên tập, tôi nhấn mạnh:
- Đừng ai lặp lại ý kiến thẩm định của người khác. Độc lập suy nghĩ, hết sức khách quan trước một tập thơ “có vấn đề”. Quả là có vấn đề lớn về thơ nói chung, cả về thi pháp, về trào lưu cách tân thi ca nói riêng nữa sau khi kết thúc chiến tranh, mở đầu giai đoạn xây dựng hòa bình.
Anh em biên tập đều làm việc rất có trách nhiệm. Các ý kiến nhận xét và thẩm định cũng có nhiều chỗ khác nhau. Đến chiều thứ sáu, khi hội ý chung thì trong ban biên tập và tôi (tôi thay mặt anh Tô Hoài – giám đốc bận đi công tác xa) đã có ba ý kiến thống nhất với nhau:
1. Không nên xuất bản vì xem ra nó chẳng mới mẻ gì, thi pháp đã không có sáng tạo lại thụt lùi về những nếp cũ hơn những tập thơ trong phong trào Thơ Mới. Rất nhiều câu chữ đã sáo mòn.
2. Mình đưa in theo bản thảo này thì trước hết rất có hại cho chính anh Thi là một nhà thơ trẻ đang cách tân, hai là không lợi cho trào lưu đổi mới thi ca đang lên cao ở Liên Xô và các nước Đông Âu.
3. Cứ cho in ra theo bản thảo nguyên tác. Ông Lành có không ưa thì chỉ có cách là mở ra một cuộc phê bình trên các báo “đánh” vào “thơ không vần”, thế thôi. Mà như thế càng tốt. Sẽ có những bài báo bênh vực sự cách tân thơ.
- Quá lên nữa thì anh Cầm bị chuyển sang công tác khác là cùng chứ gì? Nếu vậy thì anh Cầm nghĩ sao?
Tôi đáp lại cái thiện chí của anh em:
- Chả phải nghĩ gì cả. Số mệnh nó sắp đặt cho mình làm việc gì thì làm việc ấy. Miễn là đúng trách nhiệm công dân và đúng chức năng thơ mà ông trời đã đặt vào con người mình. Thậm chí ông Lành có cách chức mình thì mình cũng không sợ chết đói. Chỉ có khổ thôi (đến đây tôi cười nói bổ bã cho tan cái không khí thảo luận nghiêm trọng từ phút đầu), nhiều khi đau khổ lại sinh ra thơ hay chưa biết chừng.
Rồi tôi nói tiếp:
- Thôi kết luận về tập thơ anh Thi nhé…Cứ trùng trình vài tháng nữa rồi ta in tập Người chiến sĩ. Cứ nói với mọi người là nhà xuất bản chịu trách nhiệm. Tránh cho anh Thi đỡ phải “ăn đòn”. Còn bản thảo mới thì không thể in được. Đồng ý cả chứ?
Đồng thanh đáp lại câu hỏi kết thúc cuộc hội ý chiều thứ sáu ấy:
- Đồng ý mọi vấn đề.
Sáng hôm sau, anh Thi đến. Chúng tôi mời anh ngồi vào chiếc chiếu hoa rải ngay trên sàn gác. Anh Thi hỏi ngay đến quyết định của ban biên tập. Để tránh cho anh Thi đỡ phải nghĩ rằng Hoàng Cầm quyết định theo ý riêng của cá nhân mình, tôi đã dặn anh Đỗ Quang Tiến, biên tập viên truyện ngắn và ký sự, bút ký, phát biểu trước tiên với anh Thi, sẽ không ai có thể trách ban giám đốc nhà xuất bản là thiên vị, hoặc định kiến, hẹp hòi…
- Thưa anh Nguyễn Đình Thi, ban biên tập chúng tôi đều đã đọc kỹ và cân nhắc kỹ cả hai lần bản thảo tập thơ Người chiến sĩ của anh. Chúng tôi thống nhất với nhau một ý kiến là có in thì in theo bản thảo nguyên tác anh đưa từ ba tháng trước. Nó có nhiều bài hay và thi pháp đã có nhiều đổi mới. Còn bản thảo sau, anh chữa nhiều, anh trở về với nhiều hình thức cổ và cũ kỹ nên đọc thấy mất hay mà lại chóng chán, nên chúng tôi quyết định chỉ in theo bản thảo trước.
Anh Thi nói ngay:
- Anh em hiểu cho nỗi khổ tâm của tôi, nhưng xin các anh hãy chiều theo lòng mong muốn của tác giả. Lần sửa chữa vừa rồi anh Lành rất tán thành.
Một biên tập viên khác lại nói:
- Đồng chí Tố Hữu không phải là người quyết định những chương trình và chủ trương của nhà xuất bản, trừ phi đồng chí ấy cho chúng ta một cái “lệnh” bằng văn bản hẳn hoi.
Anh Thi cố gắng bảo vệ cho cái bản thảo sau của mình:
- Tôi nghĩ nhà xuất bản cứ cho in theo bản thảo mới này. Bởi vì xét đến cùng thì tác giả nào cũng chịu trách nhiệm về tác phẩm của mình trước công chúng và lịch sử.
Đến lúc ấy, mọi người đều im lặng vì hình như mấy lời vừa rồi của anh Thi nghe có vẻ có lý. Tôi đành phải lên tiếng:
- Anh Thi ạ, tác giả chịu trách nhiệm của mình trước lịch sử và công chúng thì đúng quá rồi. Nhưng còn nhà xuất bản thì sao? Một nhà xuất bản mà cho ra đời những cuốn sách dở, chắc chắn hàng vạn hàng triệu công chúng sẽ phê phán, chê trách, và lịch sử cũng sẽ đánh giá thấp cả nhà xuất bản nữa chứ?
Anh Thi hé ra một cái cười hiền lành, nhưng ý kiến biên tập viên và ý kiến tác giả cứ kéo co mãi, dằng dai đến hơn nửa giờ nữa. Sau cùng tôi đành phải quyết định:
- Tôi đề nghị chấm dứt cuộc tranh luận ở đây, xin được kết luận như thế này, nghe xong, xin mới các đồng chí giải tán và không ai nói gì thêm nữa, vì nói mãi cũng chỉ có vậy. Một là nếu anh Thi đồng ý cho nhà xuất bản chúng tôi ấn hành tập thơ Người chiến sĩ nguyên tác của anh thì chúng tôi hoan nghênh và có thể tiến hành ngay việc in ấn. Còn nếu anh cứ khăng khăng đòi in theo cái bản thảo mà anh đã sửa chữa thì nhà xuất bản kiên quyết không in. Dẫu in hay không, bất luận hậu quả thế nào, tôi xin chịu trách nhiệm trước cấp trên, trước pháp luật và trước công chúng.
Anh Thi có vẻ không được hài lòng, mặt biến sắc, anh cầm lại tập bản thảo mới sửa sang, rồi bỏ ra về không bắt tay tạm biệt anh em nào cả.
Đoạn kết
Có lẽ do việc không xuất bản tập thơ Người chiến sĩ mà từ đó khoảng cách giữa tôi và anh ngày càng xa thêm, rất xa. Rồi trong thực tế, một thời gian không lâu sau cái ngày thứ bảy giằng co quyết liệt ấy, số phận lại xui khiến thế nào mà tôi mắc vào “Vụ án văn học Nhân văn giai phẩm” khiến tôi bị kỷ luật đằng đẵng 30 năm, từ năm tôi mới 37 tuổi, đến khi đầu đã bạc hết, răng đã rụng hết, Hội Nhà văn mới tổ chức để một số anh em tham gia phong trào “Nhân văn” trước kia trở lại Hội (1988) sinh hoạt và làm việc có phần tự do và khoáng đãng hơn trước nhưng khốn nỗi, già yếu cả mất rồi!
Riêng với anh Thi, tôi vẫn cứ tiếc và bâng khuâng mà luôn nghĩ đến mối quan hệ giữa người với người trong một cộng đồng, có lẽ đúng như điều mà Đức Thích Ca Mầu Ni đã đúc kết thành một sáng tạo diệu kỳ về triết học quanh số phận con người: Duyên và Số. Ví dụ như chuyện vợ chồng là do duyên số, nói cụ thể hơn theo ý Phật là duyên nợ:
đời trước nợ vợ, đời nay nợ chồng.
Thế thì bạn hữu, bạn trai, bạn gái cũng là do duyên số. Trong cõi đời chúng ta từ Tây sang Đông thiếu gì những đôi bạn trai nổi tiếng: thi sĩ Rimbaud và Verlaine ở Pháp thế kỷ XIX rồi Mallarmé với Musset, VictoR Hugo với Lanson. Ở Trung Quốc có Bá Nha- Tử Kỳ, ở Việt nam xưa có Lưu Bình-Dương Lễ. Anh Thi với tôi, gần suốt thế kỷ XX hình như vào cái thuở ban đầu, hai người cùng rất trẻ, cùng chung niềm đam mê sống và sáng tạo, qua nhiều lần gặp gỡ thân tình đều muốn thành bạn tri kỷ mà rồi cuối cùng vẫn là hai con số không to tướng đứng bên cạnh nhau. Là mệnh trời hay do tính cách? Tôi chỉ muốn nhớ lại tính cách anh, như trên đã nói, trong con người anh có đến hai ba bản chất trái ngược nhau hoà thành một. Anh sinh ra, rồi trưởng thành với nhiều ước vọng. Trước tiên, từ Hội nghị Tân Trào, đó là con người chính trị ngự trị trong tâm hồn anh. Cách mạng tháng Tám thành công, có thêm con người quan chức. Còn khi mới là cậu tú, anh sinh viên trường luật, anh đã là con người học giả. Đến khi toàn dân ta phải chiến đấu chống xâm lược, con người yêu nước nồng nàn trong anh đã biến thành con người của nghệ thuật. Cả trong lĩnh vực văn hóa anh cũng đã phân thân. Anh chưa thỏa mãn trong thơ, anh nhảy sang tiểu thuyết với tham vọng viết những roman fleuve (trường giang tiểu thuyết) tưởng chừng có thể làm chấn động dư luận từ Bắc chí Nam. Chưa thỏa mãn với tiểu thuyết, anh quay sang làm một kịch tác gia, viết liền bốn năm vở. Nhưng rồi anh vẫn không vừa ý, anh lại trở về với thơ, lại có lúc muốn làm một nhà phê bình văn học uyên bác. Lại không vừa ý, anh cứ loay hoay mãi với con đường quyền chức chính trị. Cũng không đi đến cái đích mà anh mơ ước thì tuổi già xồng xộc đến ngay trước mắt. Anh lại quay về với thơ, loanh quanh mãi, hẳn anh nhiều lần tự hỏi ta đi về đâu? Ta đã đến đâu! Ai trả lại cho anh câu hỏi lớn ấy ngoài anh ra?
Tôi biết, vào những ngày tháng cuối cùng trên cái cõi mang mang thế sự đầy bí hiểm này, anh Thi có những thời khắc suy tư đầy bi kịch. Anh vốn là một nghệ sĩ nhưng ít khi sống hết mình vì nghệ thuật. Về nhạc, anh đã sáng tác khúc ca Người Hà nội rất quyến rũ, rất tình tứ mà cũng rất hùng tráng. Đáng lẽ ra anh nên dừng ở đó mà đào sâu vào cái vỉa quặng rất phong phú là âm nhạc thì tham vọng lại dẫn anh đi vào một thế giới mà anh tưởng có thể ôm chặt lấy được là thế giới văn xuôi, thế giới đến thường tưởng rất ngon ăn mà sao tiểu thuyết Vỡ bờ gần nghìn trang của anh lại hình như thưa thớt tiếng vang? Mấy cuốn truyện của anh nữa: Xung kích, Vào lửa, Mặt trận trên cao liệu còn dư vang gì trong lòng người đọc? Anh cứ loay hoay như thế suốt hơn 60 năm cầm bút để rồi đi đến đâu!
Ở anh có hai con người luôn giằng xé nhau bất phân thắng bại. Đó là con người nghệ sĩ và con người quyền chức. Không lúc nào anh thanh thản, không lúc nào anh được an nhiên tự tại cũng chỉ vì xung đột quyết liệt một mất một còn giữa hai con người đó. Vì thế mà anh sống trong một bi kịch thường trực, nó vò xé, cắn rứt lẫn nhau, không lúc nào ngưng nghỉ (trừ đôi lúc anh để tâm hồn trôi theo nhan sắc, nhưng ngay cả nhan sắc, hay nói rộng ra là tình yêu nam nữ, đôi khi cũng tưởng chừng muốn phát điên lên vì anh luôn thay đổi).
Tuy anh cũng có một gia đình tưởng như đầm ấm nhưng tôi biết cuộc sống gia đình anh cũng chả mấy niềm vui. Ngay từ đầu đời, thơ là một trong mấy cái đích lớn mà anh say sưa hướng tới thì càng về cuối đời, thơ anh chỉ còn lẻ tẻ những bài văn xuôi ngắn ngủi, kể lể một vài điều băn khoăn, rời rã trong tâm thế thất bại pha chút cay đắng gượng gạo làm vui. Rồi tan đi tất cả, anh lại trở về gậm nhấm cô đơn, tâm hồn anh nhiều năm đã trở thành bãi chiến trường ác liệt. Mà con người của thi ca nghệ thuật đã chịu thua. Dẫu anh cố vẫy vùng thì con người của quyền chức cũng chẳng đi tới chỗ mà anh mong ước.
Vài ba năm trước khi anh qua đời, tôi thường bắt gặp nơi anh nỗi buồn bất đắc chí ấy, vì chỉ thấy anh buồn, ngay cả lúc anh nhận huân chương độc lập hạng nhất, tôi chạy lại bắt tay anh, mừng anh bằng một tấm lòng chân thành, anh cũng lại cúi đầu nói nhỏ “Có gì đâu!”, nét mặt vẫn buồn rã rợi. Anh vội vàng lảng tránh, tôi càng thêm ái ngại cái nỗi riêng anh trong bấy nhiêu năm lận đận với những hào quang phụ, với những hư ảnh dối lừa, những hư vinh vô ích.
Tôi hiểu rõ anh lắm, thậm chí rất quý anh, nhưng khốn nỗi, không hiểu vì đâu mà tôi với anh lại như mặt trăng với mặt trời, như nước với lửa, như thuốc ký ninh với vi trùng sốt rét. Có lẽ từ chuyện tôi từ chối không in tập thơ Người chiến sĩ, nên hồi tôi vướng án Nhân văn, anh đã ghép thêm cho tôi cái tội là “lũng đoạn” nhà xuất bản.
Ngoài bài ca Người Hà nội mà tôi cho là một kiệt tác của anh, có lẽ sẽ sống lâu hơn cả thơ, văn, tiểu thuyết, kịch và các tiểu luận văn học mà anh đã bỏ ra nhiều công sức xây dựng, thì anh còn gì? Hạnh phúc lớn nhất cho một con người, đặc biệt là con người nghệ sĩ, lúc về già còn tình yêu trong trái tim không tuổi.
Về cuối đời, riêng tôi cũng lắm lúc tự buông thả mình vào đám bụi phố hè, ngồi say sưa với nhiều bạn trẻ, nhiều anh em thương tôi lắm nên tôi không thấy cô đơn nữa. Còn anh, tôi biết cũng cô đơn trống trải, nhưng con người quyền chức từ lâu đã không cho phép anh được chơi với tôi, và về già, được rong chơi như tôi, rong chơi hết mình với các “chú em thi sĩ”, với cả nhiều “cô em thi sĩ”, như tôi. Thế thì, Thi ơi, trước khi vĩnh biệt thế gian này, anh có buồn chăng, có vui chăng? Anh sẽ “ra đi” thanh thoát hay còn vướng mắc?
Thực tình, cho đến hôm nay, hai phần ba thế kỷ đã trôi hững, chảy hờ trên quan hệ giữa anh và tôi, vâng, thật thế, khi tôi viết những trang tâm sự này tôi rất thương anh và thật tiếc cho anh. Bởi lẽ, vào những ngày cuối cùng trên thế gian này, trong cõi người này, chắc hẳn anh đã tự biết rằng anh không đạt được ước vọng lớn lao của mình đâu bất kỳ ước vọng ấy nhằm về hướng nào trong tâm thức sâu kín của một con người.
Tháng 5. 2003
H.C.
© 2003 talawas
[1]Thơ Tản Đà:
“Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương”
[2]Câu thơ trong bài Qua vườn ổi (tập thơ Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm)
[3]Dạo ấy B. D. đã 23 tuổi, cũng trẻ đẹp nhưng tính cách và lối sống già dặn hơn cô Th. L. rất nhiều.
[4]Từ năm 1947 đến năm 1950, trong các đơn vị công tác văn nghệ ở một số chiến khu và binh đoàn, kể cả ở Bộ Tổng tư lệnh, chưa có tên gọi văn công. Sau chiến tranh thế giới, ta mượn tên “Văn công” (Công tác đoàn của Trung quốc gọi lắt là văn công để gọi các đơn vị bộ dội chuyên biểu diễn văn nghệ trong toàn quân.
[5]Chiến sĩ tự vệ thành thường đính trên mũ ca lô đội lệch ngôi sao vàng trong vuông đỏ, trông hiên ngang mà rất tài tử.
Tô Hoài – nhìn từ một khoảng cách gần
Dạo này bận quá, quyết học bọ và mở chuyên mục CHUYỆN LÀNG VĂN. Có gì hay thì tống vào đây, lúc nào rảnh nhâm nhi. Chuyện làng văn xứ ta là cuốn tiểu thuyết dài kỳ, chưa có hồi kết.
Bà con nào có can đảm thì đọc, món này MIỄN PHONG BÌ.
Entry đầu tiên lượm từ nhà bác Nguyễn Hữu Dũng. Tác giả Vương Trí Nhàn, viết về Tô Hoài. Dài lắm, đọc mãi chưa xong. Nhưng mà hay !
Tô Hoài
nhìn từ một khoảng cách gần
Vương Trí Nhàn
- Những suy nghĩ về tác giả và tác phẩm
- Những cuộc trò chuyện với nhà văn
- Tô Hoài nói về nghề và nói về người khác
- Người khác nói về Tô Hoài
1986
Những suy nghĩ khi nhớ lại Tự truyện
Một xuất phát tốt là thiên hồi ức Cỏ dại. Hình như thời thơ ấu không may mắn đã giúp cho người trai ấy có sự tỉnh táo, biết vị thế của mình trong đời. Cái gốc của Tô Hoài là một linh hồn bơ vơ. Một người thợ thủ công “cỏ dại” chính cống. Sau mới có một con người cán bộ — cán bộ viết văn – trùm ra ngoài.











Phong bì của khách